Chương 5: Sống với vị Lạt ma – Lobsang Rampa

CHƯƠNG 5

CHAPTER FIVE

“A, chào buổi sáng”, ông Pat – người đưa thư hớn hở chào khi thấy Mẹ và tôi mở cửa sau tiếng chuông.

“Tôi có rất nhiều thư cho ông ấy sáng nay, làm tôi gãy cả lưng khi phải leo lên dốc đây này!”.

Pat – người đưa thư là một người bạn cũ của chúng tôi. Đã nhiều lần Thầy cho ông ấy lên nhờ xe và chở đi hết chỗ này chỗ khác bởi chân ông đã mỏi rã vì đi bộ. Ông Pat biết mọi thứ và mọi người trong quận này, chúng tôi đã học được nhiều bản sắc địa phương từ ông ấy. Tôi thường ngửi gấu quần của ông để xem ông có đi bộ qua Mũi đất hay xuyên qua mấy bờ thạch thảo không. Tôi cũng thường biết khi nào thì ông Pat có “một chút cồn” để giữ ấm mình trong những lượt đưa thư đêm.

“Ah! Good Marnin’ to ye,” said Pat the Postman when Ma and I answered the door to his ring. “Tis a wunnerful lot of letters I have for Himself this marnin’—nigh broke me back it did, carrying it up th’ hill!” Pat the Postman was an old friend of ours. Many is the time the Guv picked him up in the car and drove him on his rounds when his legs were giving out with the walking. Pat knew everything and everybody in the district, and we picked up much local colour from him. I used to smell his trouser turn-ups so that I could read of his walk across the Head, or through the heather banks. I used to know, too, when Pat had had “a little drop” to keep him warm on his evening round.

Mẹ bê đống thư, còn tôi nhảy lên giường Thầy để hỗ trợ ông đọc thư. Có rất nhiều thư sáng nay, từ Nhật Bản, từ Ấn Độ, từ bạn bè bên Đức. Và cả một lá thư đến từ Dublin. Có tiếng rọc bao thư, rồi tiếng giấy được lôi ra.

“Hừ”, Thầy lên tiếng, “Sở thuế Ai-len cũng tệ chẳng kém gì bên Anh. Đòi hỏi thế này có khác gì ăn cướp. Chúng ta không thể chi trả nổi cuộc sống ở Ai-len mất thôi”.

Thầy chìm vào một thoáng im lặng. Mẹ đi tới bên giường. Kẹo Bơ cũng chạy lên cầu thang để xem có gì trong thư.

“Việc này làm tôi kinh ngạc”, Thầy nói, “tại sao mấy tay cán bộ thuế ở Ai-len lại không cố giữ những người như chúng ta lại đất nước này mà cứ xua đuổi bằng việc đánh thuế dã man chứ! Chúng ta đã đóng góp rất nhiều ở đây, nhưng Sở thuế không bao giờ thỏa mãn, họ cứ được voi đòi tiên. Những tác giả như chúng ta bị đánh thuế nặng nề hơn bất cứ thành phần nào ở đây”.

Ma carried in the letters and I got on the Guv’s bed so that I could help him read them. There WERE a lot this morning, letters from Japan, from India, from friends in Germany. A letter from—Dublin. There was the sound of an envelope being slit, and paper dragged out. “Hmm!” said the Guv, “The Irish Tax officials are as bad as the English. This Demand is absolute robbery. We cannot AFFORD to stay in Ireland.” He relapsed into gloomy silence. Ma hovered by the bedside. Buttercup came running up the stairs to see what was in the mail. “It amazes me,” said the Guv, “why the Irish Tax people do not try to keep people like us in the country instead of driving us out by excessive, savage taxation! We spend a lot here, but the Tax Office is never satisfied, they want to have their cake and eat it at the same time. We Authors are taxed more harshly than any other class over here.”

Tôi gật gù cảm thông, và dụi đầu vào chân Thầy. Thầy đã muốn trở thành công dân Ai-len bởi Thầy yêu xứ sở này – tất cả, ngoại trừ mấy tay ở vụ thuế! Bọn họ, đối với Thầy, còn nặng mùi hơn cả một cái chuồng mèo chưa được dọn rửa, họ thật quá vô lý, quá MÙ QUÁNG.

Thầy đưa tay véo tai tôi, “nếu không vì mấy con mèo tụi bay, Feef, thì chúng ta hẳn đã đi Tangier, hay Hà Lan, hoặc bất kỳ nơi nào chào đón chúng ta hơn. Nhưng con là bà cô già của chúng ta, và ta sẽ không để con phải chịu khổ như thể cuộc sống của ta phụ thuộc vào điều đó.”

“Thôi nào, Thầy”, tôi trả lời, “Thầy đúng là biết nói chuyện đấy! Con sẽ sống tới chừng nào Thầy còn sống – và có khi còn lâu hơn một chút nữa. Tim con khỏe lắm!”.

“Ừ, Feef”, Thầy vừa trả lời vừa xoa cằm tôi, “tim con rất khỏe, con là bà lão mèo dễ thương nhất trên đời này”.

“Có lẽ vậy”, tôi trả lời, “con và Thầy sẽ chết cũng một lúc và không bao giờ phải rời xa. Con MUỐN thế!”.

I nodded sympathetically, and pushed my head against the Guv’s leg. He wanted to become an Irish Citizen, he LOVED the Irish—all except Irish Tax officials! That body, to the Guv, was a smell worse than an uncleaned tomcat tin, they were so unreasonable, so BLIND. The Guv reached out and tweaked one of my ears, “If it were not for you cats, Feef, we would go to Tangier, or Holland, or somewhere that welcomed us more. But you are our old Granny Cat, and I would not upset you if my life depended upon it.” “Phooey, Guv!” I replied, “YOU are talking! I’ll stand as much as you will—and a bit more. My heart is sound!” “Yes, Feef,” he replied as he rubbed my chin and chest, “Your heart is sound, you are the nicest old Granny Cat ever.” “Maybe,” I answered, “You and I will pass over at the same time and then won’t be parted. I’d LIKE that!”

Chúng tôi cảm thấy hơi chùng xuống suốt phần còn lại của ngày. Việc ở lại Ai-len rõ ràng là phí thời gian khi mà mấy tay thuế vụ đòi lấy hết tất cả. Không có việc này thì chúng tôi cũng đã có đủ rắc rối rồi; mấy tay nhà báo cứ rình rập xung quanh, thỉnh thoảng dòm ngó ngôi nhà bằng ống nhòm và thậm chí còn gắn kính lên những cái gậy rồi thò vào cửa sổ phòng ngủ. Đám nhà báo đã đăng những câu chuyện không đúng sự thật về Thầy và chẳng bao giờ cho ông ấy cơ hội kể câu chuyện của mình. Thầy chỉ coi mấy tay báo lá cải như đám cặn bã của xã hội; tôi biết điều này vì tôi thường xuyên nghe ông ấy nói vậy! Từ những gì Cô Ku thuật lại, tôi biết ông ấy hoàn toàn có cơ sở.

We were all a bit gloomy for the rest of the day. Clearly it was a waste of time to try to live in Ireland if the Tax Officials were going to take all. We had enough trouble without that; the Press men were always snooping around, sometimes watching the house through binoculars and holding mirrors on poles to the bedroom windows. The Press had published untrue stories about the Guv and at no time allowed him to give HIS side of things. The Guv looks at Pressmen as being the scum of the Earth; I know, I have heard him say so often enough! From what Miss Ku told me I know that he is fully justified.

“Tôi đi lên chỗ bà O’Grady để điện cho ông Brud Campbell đây”, Mẹ nói, “tôi thấy có ai đó đã làm kẹt cái ổ khóa ở cổng sau và cần phải sửa nó”.

“Ồ, chắc là mấy khách du lịch từ Livepool”, Thầy trả lời, “ông Brud có lần bảo với tôi là Cha ông ấy thường bắt gặp du khách cắm trại ở ngay sân trước nhà”.

Mẹ lên đường vừa lúc Cô Ku gọi tôi từ trong nhà bếp, bảo rằng có một bữa trưa ngon lành đang chờ đợi chúng tôi. Tôi đi xuống và thấy Cô Ku ở ngay chân cầu thang.

“Cậu đây rồi, Feef”, cô ấy nói, “tớ đã thuyết phục Kẹo Bơ cho chúng ta ăn sớm để có thể ra vườn kiểm tra xem mấy cây hoa có phát triển tốt không. Cô ấy cằn nhằn một chút nhưng rồi cuối cùng cũng làm điều đúng đắn. Chén thôi!”.

Lúc nào tôi cũng có thể “đánh chén”. Tôi YÊU thức ăn và cho rằng thức ăn làm cho người ta khỏe ra. Giờ đây tội nặng cả thảy bảy pound và cảm thấy khỏe hơn bao giờ hết. Tôi di chuyển xung quanh cũng chẳng khó nhọc gì! Thầy đã chỉ cách cho tôi.

“Con quả là một con mèo già ngốc nghếch đấy Feef”, ông bảo vậy.

Tôi vặn lại: “Sao lại thế, thưa Thầy”.

“Con bị mù, nhưng trong thể vía, con vẫn có thể nhìn thấy. Tại sao, khi ngủ, con không đi bằng thể vía để quan sát liệu có thứ gì thay đổi vị trí? Tại sao không xem xét hết nơi này? Loài mèo các con chẳng sử dụng bộ não mà các con có chút nào!”.

Càng nghĩ về điều này tôi càng thích thú, vậy nên tôi đã tập một thói quen du hành thể vía mỗi khi ngủ. Nhờ vậy tôi không bị va vấp hay bầm tím nữa, tôi đã thông thuộc vị trí của hầu hết mọi thứ.

“I’m going up to Mrs. O’Grady’s to telephone Brud Campbell,” said Ma, “I see that someone has forced the lock on the back gate and it must be repaired.” “Oh! I expect it was those tourists from Liverpool,” replied the Guv, “Brud told me that his Father had had tourists camping in his front garden.” Ma went off up the road just as Miss Ku called me from the kitchen and said that there was a very nice lunch ready for us. I went down the stairs and was met at the bottom by Miss Ku. “Here you are, Feef,” she said, “I have persuaded Buttercup to give us ours early so that we can go into the garden and see if the flowers are growing all right. She groaned a bit, but did the Right Thing in the end. Tuck in!” I could always “tuck in”. I LOVED food and always believed in eating in order to build up one’s strength. Now I weighed all of seven pounds and had never felt better. I found my way about without trouble, too! The Guv showed me how. “You are a silly old dope, Feef,” he said. “How’s that Guv?” I asked. “Well, you are blind, yet in the astral you can see. Why not, when you rest, go into the astral plane so that you can see if anything has been shifted? Why not have a jolly good look over the place. You cats don’t use the brains you were born with!” The more I thought about it the more I liked it, so I cultivated the habit of astral travelling whenever I rested. Now I do not get bumps or bruises, I know the location of almost everything.

“Ông Brud đến rồi!”, Mẹ gọi.

Ku và tôi phấn phởi, điều đó có nghĩa là bây giờ chúng tôi có thể ra vườn, vì Thầy luôn tiếp ông Brud Campbell ở bên ngoài, vừa trò chuyện vừa làm. Chúng tôi chạy nhanh tới cửa, Cô Ku trêu trọc Thầy rằng ông ấy cần uống thuốc bổ vì đã trở nên quá CHẬM CHẠP.

“Trở nên chậm chạp ư?”, Thầy trả lời, “ta có thể tóm gọn mi bất cứ lúc nào đấy!”.

“Brud’s come!” called Ma. Ku and I were delighted, it meant that now we could get in the garden, because the Guv always went out and talked to Brud Campbell and talked while he worked. We rushed to the door, and Miss Ku told the Guv he should take a tonic as he was SLOWING UP. “Slowing up?” he replied, “I could catch you at any time!”

Mới đầu, bố cục của căn nhà làm tôi bối rối bởi vì cửa vào ở tầng trên, còn tầng trệt thì lại ở dưới thấp hơn mặt đường.

Cô Ku giải thích cho tôi: “À, cậu thấy đấy, chúng ta đang “neo” trên sườn một vách đá y như mấy con chim mẹ đang ấp trứng vậy. Các dốc này đổ xuống mặt đường, và có một cái tường để tránh cho mọi người khỏi bị ngã xuống đó. Dù gì thì căn nhà này từng là hai căn hộ, cho đến khi chúng ta đến và gộp nó vào thành một!”.

Chúng tôi có nhiều không gian trong nhà và ngoài vườn. Có hai cái vườn, mỗi cái nằm ở mỗi bên của ngôi nhà. Trước đây người ở căn hộ tầng trên sở hữu khu vườn bên phải, còn người ở tầng dưới thì có khu vườn bên trái. Giờ thì cả khu này là của chúng tôi. Vài cái cây có cành thấp, nhưng tôi chẳng bao giờ được phép đi ra một mình, vì Gia đình sợ rằng tôi sẽ ngã xuống vực, hoặc là trèo lên mấy cành cây và té. Dĩ nhiên tôi sẽ chẳng ngã đâu, thực sự đấy, nhưng mà được mọi người quan tâm đến mình như vậy cũng là một điều hay. Kẹo Bơ thường ngồi trong vườn sưởi nắng, làm cho cái áo vàng của cô ấy càng vàng chóe hơn, như cách Cô Ku nói. Chúng tôi rất thích thú mỗi khi cô ấy ở ngoài vườn bởi vì khi ấy cô thường quên bẵng mọi thứ và vì thế chúng tôi có thể khám phá nhiều hơn. Một lần tôi đến bên sườn dốc và cố leo xuống. Cô Ku hốt hoảng gọi Thầy, rồi thì ông ấy đến nhấc tôi mang về trước khi tôi kịp té.

At first the layout of the house had puzzled me because one entered by the top floor and the ground floor was below the level of the road. Miss Ku explained it to me, “Well, you see we are perched on the side of the cliff like a lot of broody hens. The cliff slopes down from the road, with a wall to keep people falling off. Anyway, this house used to be two flats until we came and knocked it into one!” We had plenty of room in the house and in the garden. There were two gardens, one at each side of the house. Formerly the upstair tenants had had the right garden and the downstair tenants the left. We had the lot. There were trees with low branches, but I was never allowed out alone because the Family always had the fear that I would fall over the cliff or climb a tree and fall off. Of course I would not have fallen, really, but it was nice to have people care that much about me. Buttercup used to sit in the garden and sun herself, making her yellow top yellower, as Miss Ku put it. We liked her to be in the garden because she often forgot about us and we could explore more. Once I went to the side of the cliff and tried to climb down. Miss Ku very hurriedly called the Guv and he came and lifted me back before I could fall.

Chúng tôi phải rất cẩn thận khi ra ngoài vườn cũng vì một lý do nữa; những kẻ hiếu kỳ thường lởn vởn xung quanh nhà để chụp lén ngài Lạt Ma. Xe con thường đậu dọc theo bức tường quanh vườn, rồi người ta trèo lên dòm qua tường để có thể chiêm ngưỡng nơi ở của Lobsang Rampa. Một buổi chiều nắng đẹp, Thầy nhìn ra cửa sổ và thấy một đám phụ nữ đang ngồi dã ngoại trên bãi cỏ! Họ tỏ ra khá bực bội khi bị Thầy mời đi. Hầu hết các cư dân sống dọc trên những con đường thơ mộng của vùng Howth đều có chung trải nghiệm này, du khách cứ nghĩ rằng họ có thể đi tới mọi chỗ, phá phách cỡ nào cũng được, rồi bỏ lại rác cho người khác dọn.

We had to be careful when we were out in the garden for yet another reason; people used to hang around trying to get photographs of the Lama. Cars used to stop alongside the garden walls, and people would clamber over so that they could see where Lobsang Rampa lived. One sunny afternoon the Guv looked out of a window and saw women having a picnic on the lawn! They were most annoyed where he went out and moved them off. Most residents on the scenic roads of Howth had similar experiences, trippers thought they could go anywhere, do as much damage as they wished, and leave their litter for others to clean up.

“Này Feef, tớ vừa nghe Thầy và Mẹ nói chuyện”, Cô Ku bảo. “Ma Rốc là ở đâu vậy?”.

“Ma Rốc à? Cô Ku, tại sao thế, nó ở Tangier, một nơi ở vùng Địa Trung Hải. Tớ đã được Bà Đại Sứ đưa đến đó. Chúng tớ suýt đã dọn đến đó ở. Chỗ đấy nóng nực, hôi hám, và thậm chí cá ở đó cũng xấu tính!”.

Tôi biết nơi đó kha khá! Tôi được mang đến đó trên một con tàu khởi hành từ Marseilles, và đã bị say sóng suốt cả hành trình. Vào những ngày đó tôi vẫn còn có thể nhìn, những người bản địa hung tợn trong những chiếc áo thụng dơ bẩn đã khiến tôi phát khiếp. Tôi hy vọng rằng chúng tôi sẽ không phải đến Tangier!

“Feef, I have just heard the Guv and Ma talking,” said Miss Ku. “Where is Morocco?” “Morocco? Miss Ku, why, that will be Tangier, a place in the Mediterranean area. I was taken there by Mme. Diplomat. We nearly went to live there. It is hot, smelly, and even the fish are smugglers!” I knew the place, all right! I had been taken there on a ship from Marseilles, and was sea-sick all the time. I had been able to see in those days, and the fierce natives in their soiled robes had frightened me quite a lot. I hoped that we would not be going to Tangier!

Cô Ku và tôi ngủ cả buổi chiều. Thầy và Mẹ đã đi Dublin còn Kẹo Bơ thì bận bịu dọn dẹp phòng ngủ. Biết là sẽ chẳng được ra ngoài, chúng tôi đánh một giấc và lang thang vào cõi trung giới một chút. Như mọi phụ nữ trên thế giới, bất kể người hay mèo, tôi có những NỖI SỢ. Tôi sống trong nỗi sợ rằng một ngày kia tôi sẽ tỉnh dậy và thấy mình trong một cái hôp ngột ngạt và hôi hám tại Sân bay. Dĩ nhiên khi thức giấc, nghe những giọng nói thân thuộc và được mọi người vuốt ve, lo lắng cho mình, tôi biết tất cả quá khứ tồi tệ giờ cũng chỉ là dĩ vãng mà thôi, nhưng trong giấc ngủ thì ai cũng sợ ác mộng.

Những lúc tỉnh giấc giữa đêm, Thầy thường bế tôi lên tay và bảo: “Được rồi, được rồi Feef, con là một bà già ngốc nghếch, bây giờ con đã ở nhà rồi và con sẽ ở với chúng ta hết cả phần đời còn lại”.

Thế là tôi sẽ kêu gừ gừ,  tự mỉm cười với mình, cảm thấy yên tâm. Sau đó tôi sẽ ngủ thiếp đi rồi lại thấy ác mộng y như cũ!

Miss Ku and I slept through the afternoon. The Guv and Ma had gone to Dublin and Buttercup was busily engaged in cleaning out her bedroom. We knew we should not be able to get out, so we slept and did a bit of astral travelling. Like women the world over, whether they be women cats or women humans I had FEARS. I lived in fear that I would some day wake up, and find myself in some suffocating, stinking box at an Airport. Of course, when I was awake, and heard voices, had people touch me and make a fuss of me, I knew that all the bad past was indeed the past, but in sleep, one fears nightmares. Often in the night the Guv would take me in his arms and say “Now! Now! Feef, don’t be such a silly old thing, OF COURSE you are home and you are going to stay with us for the rest of your life.” Then I would purr and smile to myself and feel reassured. Then I would fall asleep and have nightmares all over again!

“Feef! Họ về rồi kìa, họ đang lái xe lên đồi!”.

Cô Ku chạy vòng quanh và kéo tôi chạy đến cửa trước. Chúng tôi đến nơi vừa kịp lúc chiếc xe táp vào. Cô Ku nhảy lên xe để giúp Thầy cất nó và để đảm bảo rằng cửa ga-ra đã được khóa cẩn thận. Sau đó cô ấy bước trở lại trên bức tường cao kiểm tra xem mấy con ốc sên đã ăn hết xi-măng chưa! Rồi thì Cô ấy nhảy qua cánh cổng xanh và hét lớn:

“Mở cửa! Mở cửa! Chúng tôi ở đây”.

Cuối cùng Thầy cũng đuổi kịp cô ấy và mở cửa, họ bước vào.

“Feef! They are back, they are driving up the hill!” Miss Ku wheeled around and raced me to the front door. We got there just in time as the car drew up. Miss Ku got in the car to help the Guv put it away and see that the garage was properly locked. Then she had to walk back along the high wall to be sure that snails were not eating away the cement! She jumped over the green gate and yelled at the door, “Open up! Open up! We are here.” Then the Guv caught up with her and opened the door and in they came.

“Sao rồi?”, Kẹo Bơ hỏi khi mọi người đã an tọa. “Mọi việc sao rồi?”

“Thật phí thời gian”, Thầy trả lời. “Chúng tôi đến Đại sứ quán Ma Rốc nhưng mấy gã ở đó gần như chẳng giúp đươc gì. Chúng ta sẽ KHÔNG đi Tangier”.

Họ chìm vào im lặng, còn tôi thì tự gừ gừ đầy vui thích với ý nghĩ rằng sẽ KHÔNG phải đi Ma Rốc.

“Chúng tôi gặp ông bà Bác sĩ thú y ở Dublin”, Mẹ nói. “Tuần tới họ sẽ đến uống trà với chúng ta”.

Tôi cảm thấy ngán ngẩm. Ông Bác sĩ thú y người Ai-len là một người tốt, rất tử tế và nhân hậu, nhưng không một bác sĩ thú y nào, cho dù tốt đến mấy, lại là người hùng đối với các bệnh nhân mèo của ông ta.

Cô Ku cau mày: “Tai, Feef, tai! Hãy tránh xa chỗ này ngày mai kẻo chúng ta sẽ đi mất mấy cái tai của mình ”.

Cả nhà tiếp tục bàn bạc phải làm gì, đi đâu. Còn chúng tôi lang thang ra khỏi phòng, đi xuống cầu thang đến chỗ uống trà của mình.

“Well?” said Buttercup, when we were all sitting down. “How did you get on?” “A waste of time,” said the Guv. “We went to the Moroccan Embassy but the fellow there was most unhelpful. We shall NOT be going to Tangier.” They lapsed into silence, and I purred to myself with pleasure at the thought NO Morocco. “We saw Mr. and Mrs. Vet in Dublin,” said Ma. “They are coming out tomorrow to have tea with us” I felt gloomy, Mister the Irish Vet was a nice man, a very kind and pleasant man, but no vet, no matter how good, is a hero to his cat patients. Miss Ku frowned, “Ears, Feef, ears! Let’s get out of it tomorrow or we shall have our ears done.” The Family went on talking discussing what to do, where to go. We wandered out of the room and down the stairs in order to get our tea.

Ông Bác sĩ thú ý đến cùng với Bà Bác sĩ thú y. Chúng tôi rất quý ông ấy, nhưng quần áo của ông toàn mùi động vật và mấy thứ thuốc thang. Ông Bác sĩ thú y rất hứng thú với chiếc ống nhòm mà Thầy dùng để quan sát những con tàu ở khơi xa. Cô Ku và tôi trốn dưới cái ghế bành có đăng-ten diềm quanh, và chúng tôi đã nghe toàn bộ những gì họ nói với nhau.

Mister the Irish Vet arrived with Mrs. the Irish Vet. We liked him a lot, but his clothes smelled terribly of animals’ insides and drug-things. Mister the Irish Vet was very interested in a big telescope the Guv used to look at far-distant ships. Miss Ku and I were hidden beneath an armchair which had a frill around it, and we listened to all that was said.

“Fifi đang khỏe lắm”, Thầy nói.

“À, chắc chắn là thế rồi”, Ông Bác sĩ thú y Ai-len trả lời.

“Ông có nghĩ nó sẽ chịu được một chuyến đi đến Cork, hoặc đến Belfast không”, Thầy hỏi.

“Tất nhiên là được rồi”, ông Bác sĩ thú y Ireland đáp, “nó có thể chịu được bất cứ điều gì miễn là nó được yêu thương. Có khi sức khỏe của nó còn tốt hơn ông đấy!”.

“Nghe kìa! Nghe kìa!”, tôi tự nhủ, “tất cả những gì tôi muốn là được yêu thương và tôi có thể chịu được bất cứ thứ gì”.

Họ đi ra vườn và dựng cái ống nhòm lên. Cô Ku nhanh nhảu đến nấp sau cửa sổ để nhìn ra ngoài mà không bị ai trông thấy.

“Họ đang quan sát những con tàu, Feef”, Cô Ku nói, rồi đột nhiên hét toáng: “Nấp đi! Họ đang vào kìa!”.

Có tiếng chà chân lên thảm cửa và rồi họ bước vào.

“Hôm nay có ai thấy mấy con mèo chưa?”, Thầy hỏi.

“Tôi chỉ thấy mấy cái đuôi biến mất sau một góc nào đó thôi”, Ông Bác sĩ thú y đáp.

Rồi ông nói tiếp “Tôi rất tự hào về Fifi. Nó là một người MẸ tốt. Tôi đã xuống kiểm tra tụi mèo con. Bọn chúng đều khỏe mạnh cả!”.

Tôi bắt đầu gừ gừ vui vẻ thì Cô Ku đánh tiếng xuỵt: “Trật tự nào, bà già ngốc! Họ nghe thấy cậu bây giờ!”.

“Fifi is doing very well,” said the Guv. “Ah! Sure she is,” said Mister the Irish Vet. “Do you think she would stand a journey to Cork, or to Belfast?” asked the Guv. “She would indeed!” said Mister the Irish Vet, “She would stand anything so long as she knew she was wanted. She is in better health than you, anyhow!” “Hear! Hear! I muttered to myself, “All I want is to be wanted and I can stand anything.” They went out into the garden and set up the big telescope. Miss Ku rushed up to hide behind the window frame so that she could see out without being seen. “They are looking at a ship, Feef,” said Miss Ku. Then, suddenly, “HIDE! They are coming in!” There was the scraping of feet on the doormat and then they came in. “Have you seen the cats today?” asked the Guv. “Only their tails disappearing round the corner,” said Mister the Irish Vet. “Sure an’ I’m proud of Fifi,” he went on, “She was a very good Mother. I have been down and examined the kittens. They are doing FINE!” I started to purr with pleasure. Miss Ku hissed, “Shut up, you old fool! They will hear you!”

Đêm đó Thầy bị ốm, ốm nặng hơn bình thường. Có cái gì đó không ổn bên trong ông. Tôi nghĩ ông ấy có cùng vấn đề mà tôi đã từng có, và tôi bảo vậy với Cô Ku.

“Feef”, cô ấy trả lời, nửa buồn cười, nửa bực dọc, “Làm sao Thầy lại có thể có u buồng trứng được? Cậu còn ngốc hơn tôi tưởng đấy, Feef!”.

That night the Guv was ill, more ill than usual. Something had gone wrong inside him. I thought perhaps he had the same trouble as I had had and said so to Miss Ku. “Feef.” she replied, half amused, half cross, “How could the Guv possibly have a uterine tumour? You are even more feeble minded than I thought, Feef!”

Ngày hôm sau Thầy đi gặp Bác sĩ, Bác sĩ chuyên khoa người Ai-len. Một chiếc taxi đến trước cửa đón Mẹ và Thầy đi, nó chạy xuống đồi, khuất tầm mắt Cô Ku, rồi tiếp tục chạy đi Dublin. Thời gian chậm chạp trôi qua. Ngày lê thê mỗi lúc một dài hơn khiến chúng tôi lo lắng. Cuối cùng Cô Ku phát hiện ra tiếng xe chạy lên đồi. Tiếng đổi số, xe chạy nhanh hơn, sau đó chậm lại rồi dừng hẳn trước cửa. Mẹ và Thầy bước vào, Cô Ku vội vàng thì thầm với tôi rằng Thầy trông xanh xao và mệt mỏi hơn thường lệ. Chúng tôi tránh ra một bên để khỏi ngáng đường, nhưng Thầy – dù ốm hay không – luôn có thời gian và năng lượng để cúi xuống nói chuyện với “con cái” của mình. Tôi cảm thấy đôi tay Thầy thiếu sức sống khi ông vuốt ve tôi, và tôi nôn nao trong lòng vì lo lắng. Thầy chậm chậm đi vào phòng rồi lên giường đi ngủ. Đêm đó Cô Ku và tôi thay phiên nhau thức trông Thầy.

The next day he went to see Doctor, the Irish Specialist. A taxicab came to the door and off the Guv and Ma went, off down the hill, round the corner out of Miss Ku’s sight and on to Dublin. Time dragged on. Time crawled slower and slower; we were worried. At last Miss Ku detected the sound of a car labouring up the hill. Gears were changed, the car speeded up, and then slowed and stopped at the door. Ma and the Guv came in, the Guv looking paler and more worn than usual, and Miss Ku hastily whispered to me. We moved aside in order not to get in the way, but the Guv—ill or not—always had time and energy to stoop and talk to “his children.” I felt the lack of vitality in his hands as he caressed me, and I felt sick in my stomach with the worry. Slowly he went into his bedroom and went to bed. That night Miss Ku and I took turns to stay awake with him.

Phải, tôi biết nhiều người sẽ cười nhạo điều này, họ nghĩ rằng “loài vật” không có ý thức, không có lý trí, cũng không có tình cảm với người khác, nhưng loài người cũng là “loài vật” kia mà! Cô Ku và tôi hiểu được mọi lời nói cũng như suy nghĩ. Chúng tôi hiểu con người, nhưng con người chẳng hiểu chúng tôi, cũng chẳng cố hiểu làm gì, mà chỉ xem chúng tôi như “giống loài thua kém”, “những con vật ngu ngốc”, hay đại loại vậy. Nhưng chúng tôi không gây chiến với nhau, không giết hại vô cớ ngoại trừ lý do sinh tồn. Chúng tôi chẳng hành hạ nhau, cũng không nhốt đồng loại của mình vào các trại tập trung. Chúng tôi – những con mèo Xiêm – có lẽ có chỉ số thông minh cao nhất trong tất cả các loài vật. Chúng tôi cũng cảm nhận, cũng yêu thương, cũng sợ hãi, nhưng không bao giờ thù ghét. Con người chẳng bao giờ chịu tìm hiểu trí thông minh của loài vật bởi họ quá bận bịu với những cơ hội kiếm tiền dù lương thiện hay bất lương. Thầy hiểu chúng tôi như thể ông hiểu bản thân mình. Ông có thể nói chuyện với chúng tôi bằng thần giao cách cảm, như cách tôi và Cô Ku nói chuyện với nhau. Chúng tôi có thể (và thường xuyên) nói chuyện với ông ấy. Theo lời kể của Thầy, con người và loài vật đã có thể nói chuyện với nhau vào thuở xưa, nhưng loài người đã lạm dụng những đặc ân của họ nên bị mất đi năng lực này. Loài vật thì vẫn còn năng lực đó.

Yes, I know that many humans will laugh at that, thinking that “animals” have no sense, no reason, no feelings for others, but humans are animals as well! Miss Ku and I understand all and every word said or thought. We understand humans, but humans do not understand us, nor do they try to, preferring to regard us as “inferior creatures,” “dumb animals,” or the like. We do not make war on each other, nor do animals kill needlessly but only in order to eat. We do not torture nor put our fellows in concentration camps. We—Siamese Cats—have probably the highest intelligence quotient of all animals. We feel, we love and often fear, but never hate. Humans never have the time to investigate our intelligence for they are too busy trying to make money by any fair or unfair means which presents itself. The Guv knows us as well as he knows himself. He can talk to us by telepathy as well as Miss Ku and I talk. And we can (and do!) talk to him. As the Guv says, humans and animals could talk together by telepathy in the days of long ago but Mankind abused the privilege and so lost the power. Animals still have that power.

Ngày trở thành tuần rồi mà Thầy vẫn chưa khỏe lên. Bấy giờ mọi người nói chuyện về Trung tâm chăm sóc y tế, và các cuộc phẫu thuật, trong khi Thầy càng trở nên nhợt nhạt hơn, và phải nghỉ ngơi nhiều hơn. Mấy ngày nay Cô Ku và tôi rất im lặng, rất lo lắng, không vòi vĩnh ra vườn nữa. Chúng tôi lo lắng trong âm thầm nhưng cố giấu nỗi sợ của mình trước mặt Thầy.

Days grew into weeks and the Guv did not improve. There was talk now of a Nursing Home, an operation. And all the time he grew paler and had to rest more. Miss Ku and I were very quiet, very concerned nowadays and did not press to go in the garden. We mourned in private and tried to conceal our fears from the Guv.

Một buổi sáng, sau bữa điểm tâm, tôi đang ngồi trên giường với Thầy còn Cô Ku thì ngồi trên cửa nói chuyện với mấy con mòng biển để dặn dò tụi nó đừng có làm ồn như vậy.

Thầy nói với Mẹ rằng: “Hãy đọc bài báo này đi. Nó nói về những cơ hội tuyệt vời ở Canada. Nhà văn, Nghệ sĩ, Bác sĩ – TẤT CẢ đều được chào đón. Có lẽ  đây sẽ là nơi cho chúng ta, bà nghĩ sao?”.

Mẹ cầm lấy tờ báo và đọc. “Nghe ổn đấy”, bà nói, “nhưng tôi chẳng tin mấy bài báo này. Tôi tưởng ông muốn đi Hà Lan chứ? Dù sao thì ông cũng chưa khỏe cho lắm!”.

One morning after breakfast, when I was sitting on the bed with him and Miss Ku was in the window telling the seagulls not to make such a noise, the Guv turned to Ma and said, “Read this article. It tells of the wonderful opportunities in Canada. Apparently Writers, Artists, Doctors—EVERYONE is wanted. Might be the place for us, what do you think?” Ma took the article and read it. “READS all right,” she said, “But I don’t trust any of these articles. I thought you wanted to go to Holland? You are not well enough, anyhow!”

“Chúng ta không thể ở đây”, Thầy bảo, “mấy tay ở sở thuê Ai-len đang làm khó dễ. Này Sheelagh!”, ông gọi Kẹo Bơ. Thầy vẫn theo phong tục phương Đông phải hỏi ý kiến cả nhà.

“Sheelagh”, ông hỏi, “Cô nghĩ sao về Canada?”.

Kẹo Bơ nhìn ông như thể nghi ngờ ông có gì đó bất ổn trong đầu. Cô Ku phải làm việc nhiều hơn bình thường để thuật lại cho tôi diễn biến của những việc tôi không thể nhìn thấy.

“Trời ạ!”, cô thì thầm, “Kẹo Bơ nghĩ rằng ông ấy bệnh đến nỗi không biết mình đang nói gì. Canada ư? CANADA? Trời đất!”.

“We can’t stay here,” said the Guv, “The Irish Tax people make it impossible. Sheelagh!” he called to Buttercup. The Guv always followed the Eastern custom of consulting the whole family. “Sheelagh,” he asked, “What do you think of Canada?” Buttercup looked at him as if he were not quite right in his head. Miss Ku worked overtime giving me a running commentary on the things I could not see. “Gee!” she said in a whisper, “Buttercup thinks he is so ill he does not know what he is saying. Canada? CANADA? HO-LY!”

Xế trưa Thầy dậy khỏi giường và mặc quần áo. Tôi có thể cảm nhận rằng ông đang không biết phải làm gì. Gọi Cô Ku và bế tôi trên vai, Thầy bước ra vườn, chầm chậm bước dọc theo lối đi trong vườn và đứng nhìn ra biển.

“Ta muốn ở lại đây hết phần đời còn lại của mình, các bạn mèo ạ”, ông nói, “nhưng mấy tay thuế vụ ở đây đòi hỏi quá khắt khe đến nỗi chúng ta buộc PHẢI rời đi. Các con có muốn đi Canada không?”.

“Trời ơi Thầy”, Cô Ku nói, “chúng con sẽ đi bất cứ nơi đâu Thầy bảo”.

“Vâng, con đã đủ khỏe để lên đường”, tôi nói, “con sẵn lòng đi bất cứ nơi đâu, chỉ sợ Thầy chưa khỏe”.

Later in the morning the Guv got out of bed and dressed. I could sense that he did not know what to do. Calling Miss Ku and lifting me across his shoulder he walked out into the garden. Slowly he walked down the garden path and stood looking out to sea. “I’d like to stay here for the rest of my life, cats,” he said, “but the Tax men here make such extortionate demands that we HAVE to move in order to live. Would you two like to go to Canada?” “Gee, Guv,” said Miss Ku, “We will go anywhere you say.” “Yes, I am well enough to travel,” said I, “I am willing to go anywhere, but you are not well enough.”

Tối hôm đó Thầy đi gặp Bác sĩ, lại là ông Bác sĩ chuyên khoa người Ai-len. Nhiều tiếng sau ông mới trở về, và tôi có thể lường trước tin xấu. Tuy nhiên ông vẫn nói chuyện về Canada.

“Cục xuất nhập cảnh Canada đang quảng cáo trên báo”, Thầy nói, “hãy hỏi thăm vài thông tin. Đại sứ quán ở đâu nhỉ?”.

“Quảng trường Merrion ạ”, Kẹo Bơ trả lời.

That evening the Guv had to go to Doctor, the Irish Specialist again. He returned hours later, and I could tell that the news was bad. However he still had a discussion about Canada. “The Canadian Ministry of Immigration are advertising in the papers,” he said, “Let us send for some details. Where is the Embassy?” “Merrion Square,” said Buttercup.

Vài ngày sau, một núi những tờ quảng cáo đến từ Đại sứ quán Canana ở Dublin. Cả nhà quây quần cùng đọc.

“Họ hứa hẹn rất nhiều”, Thầy bảo

“nhưng đây vẫn chỉ là quảng cáo thôi”, Mẹ đáp.

“Tại sao chúng ta không gọi cho Đại sứ quán nhỉ?” Kẹo Bơ đề xuất.

“Đúng vây”, Thầy tán thành, “chúng ta phải đảm bảo rằng mấy con mèo được chào đón, tôi sẽ loại ngay phương án này nếu chúng bị đưa đi cách ly. Cách ly là một điều thật dã man”.

Several days later wads of advertising stuff came from the Canadians in Dublin. The Family settled down to read the whole lot. “They make a lot of promises,” said the Guv. “Yes but this is only advertising stuff,” said Ma. “Why not, call at the Embassy?” asked Buttercup. “Yes,” replied the Guv, “We must be very sure that the cats will be welcomed, I would not consider it if they had to go in quarantine or anything like that. Quarantine is an evil thing anyhow.”

Thầy và Mẹ đi đến Humber rồi lái thẳng lên Dublin. Buổi sáng chậm chạp trôi qua; thời gian lúc nào cũng dài lê thê khi tương lai bất định và khi những người thương yêu vắng mặt. Mãi rồi họ mới trở về.

“Quan liêu! Thật quan liêu!”, Thầy bực dọc, “mấy tay cán bộ quèn mà cũng làm khó dễ. Tôi chỉ muốn ấn vài tên xuống đầu gối và tát vào…”

“Thôi nào đừng bận tâm đến bọn họ”, Mẹ bảo. “Họ chỉ là những tay thư ký và không biết gì hơn thế”.

Cô Ku phì cười: “Ông Già có thể đánh họ nhừ tử và thích thú với điều đó! Cánh tay của ông í khỏe hơn mấy người phương Tây rất nhiều, ông ấy đã từng phải đánh nhau kha khá. Trời ơi. Tớ muốn thấy ông ấy cho họ nếm mùi!”, cô thở dài.

Thầy rất to lớn, có đủ chỗ ngồi thoải mái cho cả Cô Ku và tôi trên lòng ông. Gần hai trăm ba mươi pound, toàn cơ và xương. Tôi rất thích những người to lớn, có lẽ bởi vì tôi chưa bao giờ có đủ thức ăn để cho phép mình phát triển hết cỡ.

The Guv and Ma went out in the Humber and drove away to Dublin. The morning dragged on; time always drags when the future is uncertain and when loved ones are absent. At last they returned. “Red tape! Red tape!” said the Guv, “it always amazes me that such petty officials are so unpleasant. I’d like to put some of these fellows across my knee and slap their –” “But you don’t want to take any notice of them” said Ma. “They are only clerks and know no better.” Miss Ku sniggered and whispered, “The Old Man could beat ’em up and like it! His arms are far far stronger than those of Westerners, and he has had to fight a lot. Gee. I’d like to see him beat ’em up!” she sighed. The Guv WAS big, there was ample room for Miss Ku and me to sit on him together. Nearly two hundred and thirty pounds, it was all muscle and bone. I like big people, probably because I never had enough food to permit me to grow to my full size.

“Chúng tôi đã điền vào mẫu đơn, lấy vân tay, làm đủ mấy thủ tục nhảm nhí”, Thầy nói với Kẹo Bơ.

“Ngày mai tôi sẽ đưa cô đến gặp họ. Cô phải đi với tư cách là con nuôi của chúng tôi. Bằng không cô sẽ phải có một số tiền nhất định, có ai đó bảo lãnh hoặc tương tự. Mấy người Canada mà chúng tôi đã gặp có vẻ rất trẻ con”. “Ông quên nói rằng tất cả chúng ta đều phải đi kiểm tra sức khỏe nữa”, Mẹ nói thêm.

“Vâng”, Thầy trả lời, “chúng ta sẽ nhờ bà O’Grady trông lũ mèo, tôi sẽ không để CHÚNG một mình với ai khác, chúng có giá trị với tôi còn hơn cả cái nước Canada gộp lại.”

Bữa trưa đã sẵn sàng, vì vậy chúng tôi đi ăn trước đã, tôi luôn tin rằng mọi người sẽ bàn bạc bình tĩnh hơn sau khi no bụng. Chúng tôi sống tốt, chẳng có gì là quá tốt cho lũ mèo chúng tôi. Cô Ku đã – và đang – là một cô mèo khảnh ăn; cô ta chăm sóc rất kỹ hình thể của mình, mà cũng đúng, cô ấy là một cô mèo trẻ duyên dáng và thú vị nhất.

“We filled in all the forms, had our finger prints taken, and all that rubbish,” said the Guv to Buttercup. “Tomorrow I am going to take you in to see them. You have to go as our adopted daughter. Otherwise you have to have a certain sum of money, someone to guarantee you, or some other bilge. The Canadians we have seen so far appear to be very childish.” “You forgot to say that we all have to go for a medical examination”, said Ma. “Yes,” replied the Guv, “We will ask Mrs. O’Grady if she will stay with the cats, I’m not leaving THEM alone for anybody, they mean more to me than the whole of Canada put together.” Lunch was ready, so we attended to that first, I always believed that one could discuss things more calmly after a good meal. We lived well, nothing was too good for us cats. Miss Ku was—and is—a very small eater; she took the utmost care of her figure and she was indeed a most elegant and delightful young woman cat.

“Ô kìa!”, Thầy gọi, “bà O’Grady đang đi dưới đường kia rồi”.

Mẹ vội vàng chạy ra mời bà ấy vào nhà. Cô Ku và tôi đi xuống cầu thang để xem Kẹo Bơ đang làm gì, chúng tôi hy vọng cô ấy đang ngồi trong vườn, bởi như thế chúng tôi có thể trốn ra làm vườn. Tôi đã dự định lúc nào đó sẽ nhổ vài cái cây để kiểm tra xem chúng có đang phát triển tốt không. Cô Ku thì để tâm đến việc nhìn ngó nhà của Gã Thỏ. Anh ta sống trong một cái hang trên sườn dốc bên nhà. Thường thường, vào ban đêm anh ta hay bò ngang qua cửa sổ và cười nhạo việc chúng tôi phải sống trong nhà. Cả hai chúng tôi đều muốn có vài lời với anh ta về hành vi thiếu văn minh này. Tuy nhiên, việc này chẳng xảy ra, Kẹo Bơ đang làm gì đó trong phòng cô ấy, vì vậy chúng tôi đi luẩn quẩn rồi ngồi trong phòng cất đồ.

“Hey!” called the Guv, “Mrs. O’Grady is coming down the road.” Ma hastened out to intercept her and bring her in. Miss Ku and I went downstairs to find out what Buttercup was doing, we hoped that she would be sitting in the garden, because then we would be able to go out and do some gardening. I had planned for some time to uproot a few plants so that I could be sure they were growing satisfactorily. Miss Ku had her mind set on looking at Mister Rabbit’s house. He lived in a hole in the cliff side and often by night he came past our windows and laughed at us for being in the house. We both wanted to have a few words with him about his uncivil manner. However, it was not to be, Buttercup was doing something in her room, so we wandered along and sat in the room where we stored our cases.

Sáng hôm sau là một buổi sáng bận rộn. Thầy dẫn chúng tôi ra ngoài sớm để chúng tôi có thể nói chuyện với gã Thỏ. Cô Ku đi xuống bờ dốc độ mười hai feet, rồi hét lớn thông điệp của mình vào trước cửa nhà anh ta. Tôi nằm vắt qua vai Thầy – vì ông ấy không để tôi xuống – rồi hét với Cô Ku những điều tôi muốn nói. Chúng tôi đã rất tức tên Thỏ này. Sau đó thì chúng tôi mài vuốt vào mấy cái cây một chút. Chúng tôi cần chuẩn bị sẵn sàng để trông coi Bà O’grady khi cả nhà đi Dublin. Mỗi đứa đều lăn mình qua đám cát ở cuối vườn, chà cát thật kỹ vào lông, sau đó thì chơi rượt đuổi quanh vườn. Tôi theo sát Cô Ku bởi như vậy cô ấy sẽ dẫn đường và tôi sẽ không bị va vào đâu cả. Chúng tôi luôn đi theo một đường quen thuộc, bởi thế tôi biết được hết mọi chướng ngại vật.

The next morning was a busy one. The Guv took us out early so that we could have our say with Mister Rabbit. Miss Ku descended the cliff face about twelve feet and shouted her message through his front door. I lay across the Guv’s shoulder—he would not let me go down—and shouted down to Miss Ku the things I wanted to say. We were very cross at Mister Rabbit. Then we had to do our claws on one of the trees. We had to be just right so that we could look after Mrs. O’Grady when the Family were in Dublin. We each took a bath in the dust at the end of the garden, rubbing it well into our fur, then we were ready for a five-minute wild chase round the garden. I followed Miss Ku closely because in that way she guided me and I did not bump into anything. We always took the same path, so I knew all the obstacles.

“Vào thôi nào, lũ giặc!”, Thầy mắng yêu. Dậm chân và giả vờ tỏ ra hung dữ, ông khiến Cô Ku chạy vào nhà nhanh nhất có thể. Nhấc tôi lên vai, Thầy mang tôi vào nhà và đóng cửa lại.

“Nhanh lên, nhanh lên, Feef!”, Cô Ku gọi, “có thùng đồ tạp hóa mới đằng này, nó chứa đầy tin tức!”.

Thầy đặt tôi xuống, và tôi vội vã chạy đến bên cái hộp để có thể đọc tin tức mới nhất từ các cửa hàng trong làng.

“Come on in, you savages!” said the Guv. Shuffling his feet and pretending to be fierce he got Miss Ku to run as fast as she could into the house. Lifting me and slinging me across his shoulder he carried me in and shut the door after. “Quick! QUICK! Feef,” called Miss Ku, “There is a new grocery box here, it is full of news!” The Guv put me down, and I hastened to the box so that I could read of the latest news from the shop in the village.

Cả nhà đã chuẩn bị lên đường. Véo tai tôi, Thầy chào tạm biệt và dặn dò chúng tôi phải chăm sóc Bà O’grady.

“Được thôi”, Cô Ku đáp, “bà ấy sẽ được an toàn với chúng con, có nên xích cửa lại không nhỉ?”

Lúc đó, tôi đang nghĩ đến việc đề nghị nhờ ông Loftus đến chăm sóc bà ấy, nhưng rồi nhận ra rằng Thầy hẳn đã làm vậy nếu ông thấy cần thiết. Khi Bà O’Grady đã an tọa, Cô Ku bảo: “Nhanh lên, Feef, giờ là lúc phải làm một vài việc mà chúng ta không thể khi có mặt cả nhà”. Cô quay lại dẫn đường và chạy xuống cầu thang.

The Family were ready to go. Tweaking our ears, the Guv said goodbye to us and told us to look after Mrs. O’Grady. “Okay!” said Miss Ku, “She will be safe with us, should we put the chain on the door?” For a moment I thought of suggesting that Mr. Loftus should be asked to come and look after her but then I realised that the Guv would have done that if he had considered it necessary. Mrs. O’Grady settled herself down, and Miss Ku said, “Come on, Feef, now is the time to do a few of those jobs which we can’t do when the Family is here.” She turned and led the way downstairs.

Chúng tôi đảo quanh nhà một cách kỹ lưỡng để đảm bảo tên Thỏ không đột nhập vào ăn trộm thứ gì.

Chốc chốc Cô Ku lại nói: “tôi sẽ lẻn lên gác coi thử Bà O’G có ổn không. Chúng ta đơn giản là PHẢI để mắt đến bà ấy”.

Cô chạy biến đi, bước lạch cạch lên cầu thang, cố tình tạo ra tiếng ồn để Bà O’G không cảm thấy bị rình mò. Mỗi lần như vậy Cô Ku sẽ trở lại và bảo : “Bà ấy ổn”. Thời gian chậm chạp trôi đi – và còn tệ hơn thế – dường như thời gian đang trôi ngược.

“Cô có nghĩ rằng họ ổn cả không Cô Ku?”. Tôi hỏi cô ấy cả ngàn lần như vậy. “Dĩ nhiên là họ ổn rồi, tớ đã trải qua điều tương tự thế này rất nhiều rồi. DĨ NHIÊN là họ ổn!”, cô kêu to như vậy, cố gắng tự thuyết phục mình. Chỉ cái giật đuôi đầy lo lắng là để lộ tất cả những cảm xúc của cô.

“Cậu biết rất rõ rằng họ phải đi gặp bác sĩ, cả ba người phải kiểm tra sức khỏe, và rồi phải đi bệnh viện để chụp X-quang phổi nữa”. Cô vừa liếm một tay đầy lo lắng, tạo thành những tiếng “tút tút, tút tút” vừa kiểm tra những cái vuốt được tỉa tót kỹ lưỡng của mình.

We went round the house thoroughly to make sure that Mister Rabbit had not broken in to steal anything. Every so often Miss Ku would say, “I’ll just slip upstairs and see that Ve O’G is doing all right. We simply MUST look after her.” Off she would go, clattering up the stairs, deliberately making a noise so that Ve O’G would not feel spied upon. Each time Miss Ku would return and say, “Yep! She is all right” Time dragged—worse—time seemed to be going backwards. “Do you think they are all right, Miss Ku.” I asked for the thousandth time. “Of course they are all right, I’ve been through things like this before. OF COURSE they are all right!” she exclaimed, trying to convince herself. Only by the nervous twitching of the tip of her tail did she betray any emotion. “You know quite well that they have to go to see a doctor, all three have to be examined, and then they have to go to a hospital to have their lungs X-rayed.” She nervously licked a hand, muttering ‘tut-tut, tut-tut’ as she surveyed her well manicured claws.

Chúng tôi không còn bụng dạ nào để ăn. Đồ ăn không bao giờ thay thế cho tình thương được.

Thế rồi tôi nhớ lại những lời mà Mẹ yêu dấu đã nói: “Nào, nào, Fifi”, bà nói, “cần giữ bình tĩnh trong mọi tình huống. Lo lắng chẳng bao giờ giải quyết được bất cứ vấn đề nào; nếu con để tâm mình lo lắng con sẽ chẳng có thời giờ tìm ra lối thoát cho tình huống.”

“Cậu nghĩ họ có ổn cả không, Feef?”, cô Ku lại hỏi tôi.

“Có chứ, Cô Ku”, tôi trả lời, “tôi chắc chắn rằng bây giờ họ đang trên đường về rồi”.

“Tội nghiệp Bà O’grady”, Cô Ku bảo, “tớ nghĩ chúng ta nên lên gác và an ủi bà ấy”.

Chúng tôi đứng lên và đi lần theo hành lang, Cô Ku đi trước còn tôi nối gót. Chúng tôi cùng nhau leo lên bậc thang rồi đi dọc theo hành lang trên gác, rồi cùng nhảy lên sung sướng khi cánh cửa trước mở ra và cả nhà bước vào.

We could not face up to food. Food never took the place of love! As I fretted away I recalled my dear Mother’s words to me, “Now now, Fifi,” she had said, “keep calm under all circumstances. Worry never solved a single problem; if you are busy worrying you have not the time to see the way out of a difficulty.” “Do you think they are all right, Feef?” asked Miss Ku. “Yes, Miss Ku,” I replied, “I am sure they are on the way home now.” “Poor Mrs. O’Grady,” said Miss Ku, “I think we should go upstairs and comfort her.” We rose and made our way along the corridor, Miss Ku leading and I following in her footsteps. Together we mounted the stairs and proceeded along the upper corridor, then flung ourselves with yells of joy at the door as it opened and The Family came in.

Bệnh viện đã sớm phát hiện các vết sẹo của Thầy, cũng chẳng mất thời gian để biết rằng ông mắc bệnh lao phổi cùng một mớ các bệnh khác.

“Tôi sẽ ghi lời tiến cử cho ông được phép đi”, bác sĩ ở bệnh viện bảo, “bởi vì với học vấn và khả năng viết lách, ông sẽ là một vật báu cho Canada.”

Nhiều ngày trôi qua, Thầy nhận được thư bảo rằng ông ấy có thể đi Canada nếu ông ký vào giấy này giấy nọ và khai báo với Cán bộ Y tế ở Canada. Thầy đã quá bực dọc với mọi thủ tục quan liêu đến nỗi ông suýt thì xé hết mấy tờ giấy, những không may thay (bây giờ thì chúng tôi nghĩ vậy) ông đã nhún vai ký hết chúng.

The hospital had soon detected the Guv’s scars, had soon detected that he had had T.B. (Tuberculosis, short for tubercle bacillus) and a myriad of other complaints. “I will put in a recommendation that you be permitted to go,” said the hospital doctor, “for with your education and writing ability you would be an asset to Canada.” More days passed, and then the Guv had a letter which said he could go to Canada if he would sign this and sign that and report to the Medical Officer of Health in Canada. The Guv was so cross about all the silly red tape that he almost tore up the papers, unfortunately (as we now think) he just signed them with a shrug of his shoulders.

“Làm thế nào chúng ta đem mấy con mèo đến đó được?, Mẹ hỏi.

“Chúng sẽ đi với chúng ta lên máy bay, hoặc không thì chẳng đi nữa. Tôi phát ốm với mấy thứ Quy định ngớ ngẩn này!”.

Trong nhiều ngày cả nhà đã thử gọi rất nhiều hãng hàng không khác nhau để tìm nơi chấp nhận cho chúng tôi đi cùng thay vì phải ở trong những thùng hành lý tối tăm chán ngắt. Cuối cùng thì hãng hàng không Thụy Sĩ cũng đồng ý với điều kiện Thầy phải cho cả Gia đình đi khoang hạng nhất, trả thêm cân hành ký cho Cô Ku và tôi, và tất cả chúng tôi sẽ đi khi nào có nhiều ghế trống. Thầy đã bày tỏ rõ quan điểm rằng sẽ không chịu tách chúng tôi, vì vậy ông đã đồng ý trả thêm rất nhiều tiền. Sau đó ông vẫn còn trăn trở; chúng tôi sẽ bay đến sân bay Idlewwild ở New York thay vì bay tới Montreal. Giá mà hãng hàng không Canada chịu chở thì chúng tôi đã có một hành trình ngắn hơn đến Canada, nhưng hãng Thuy Sĩ thì chỉ bay đến New York, nên chúng tôi không có lựa chọn nào khác. Câu hỏi bây giờ là, hãng Thụy Sĩ sẽ chở chúng tôi trong khoang hành khách đến New York, nhưng liệu hãng hàng không Hoa Kỳ có đồng ý chở như vậy từ New York đến Detroit không? Thầy sợ rằng nếu không sắp xếp mọi thứ trước, chúng tôi sẽ bị kẹt lại New York mà không có phương tiện di chuyển. Chuyến đi của chúng tôi được một công ty Lữ hành ở Dublin sắp xếp, vì vậy Thầy đã buộc họ đưa ra yêu cầu rõ ràng với hãng hàng không Hoa Kỳ, và nếu họ đồng ý, mới đặt và trả tiền vé hạng nhất từ New York đi Detroit, rồi thuê một chuyến xe chở chúng tôi qua biên giới giữa Mỹ với Canada đến Windsor, nơi chúng tôi sẽ định cư.

“How are we going to get the cats there?” asked Ma. “They will go with us in the plane or NONE of us will go. I’m SICK of all these fool Regulations!” said the Guv. For days they tried different airlines in an attempt to locate one which would permit us to travel with The Family instead of being in a dark and cheerless luggage hold. At last Swissair line agreed that if the Guv had The Family travel by first class, and paid BAGGAGE RATES on Miss Ku and me we could be in the first-class compartment with them, provided that we all traveled when there were many empty seats. The Guv made it clear that he was not going to be parted from us, so he paid all the many pounds demanded. Then he had another thought; we were going to fly direct to Idlewild Airport, New York instead of flying to Montreal. If a Canadian airline had taken us we should have had the shorter route across Canada, but as Swissair flew direct to New York we had no choice. The question now was, Swissair would take us in the passenger compartment, but would the American line which would have to take us from New York to Detroit? The Guv had a fear that unless everything was settled first, we would be stuck at New York without means of transport. Our affairs were being handled by a Travel Agent in Dublin, so the Guv had him make a definite enquiry of the American line, and if they agreed, book and pay first-class fares from New York to Detroit, and hire a car to take us across the American-Canadian Border to Windsor where we were going to live.

Công ty Lữ hành đã kiểm tra và biết rằng một Hãng hàng không ở New York đồng ý cho chúng tôi bay trong khoang hành khách, miễn là chúng tôi chịu trả hết mọi loại chi phí.

“Thế là”, họ nói, “chẳng có gì phải lo nữa cả. Giờ ông phải đem hết chứng từ này đến Đại sứ quán, cho họ thấy rằng ông có đủ tiền để sinh sống ở Canada cho đến khi ông kiếm được việc, và thế là xong xuôi hết rồi. Cảm ơn ông đã sử dụng dịch vụ. Nếu bất cứ lúc nào ông muốn trở về, chúng tôi sẵn lòng lo liệu việc đó cho ông”.

Một lần nữa Thầy và Mẹ lại đến Đại sứ quán Canada kiểm chứng với họ theo đúng trình tự.

“Ông có chứng nhận thú y cho thấy mấy con mèo này mạnh khỏe không?” một viên thư ký hách dịch hỏi.

“Có chứ”, Thầy trả lời và đưa ra tất cả các chứng từ cần thiết. Bây giờ không còn gì để phàn nàn nữa, mấy tay thư ký mới cấp giấy phép nhập cư tại Cacana dưới dạng tạm trú.

Thầy cau có nói: “Chúng ta mà ở dạng “tạm trú” sao!”. Khi các thủ tục đã đầy đủ, Thầy và Mẹ trở về với chúng tôi ở Howth, mệt nhoài.

The Agent checked, and finding that the Airline in New York agreed to have us in the passenger compartment, paid all the fares. “So,” he said, “there is nothing more to worry about. Now you have to take these receipts to the Embassy, show them that you have enough money to live in Canada until you find work, and that is all there is to it. Thanks for your custom. If you want to come back at any time I shall be pleased to handle it for you.” Once again the Guv and Ma went to the Canadian Embassy where they showed that everything was in order. “Got a veterinarian’s certificate to show that the cats are in good health?” asked a surly clerk. “Yes!” said the Guv, producing the required papers. Now, with nothing more to complain about, the officials had to issue the necessary permission to enter Canada as a “landed immigrant.” As the Guv now says, ruefully, “We were ‘landed’ all right!” With the papers in order, the Guv and Ma returned, tired out, to us at Howth.

“Giờ thì, mấy đứa”, Thầy bảo, “khi chúng ta rời đi tụi con phải nằm yên trong giỏ của mình, cho đến khi chúng ta đã ở trong máy bay rồi mới được ra và ngồi cùng mọi người. Rõ chưa?”.

“Đã rõ, thưa Thầy”, Cô Ku trả lời, “chúng con sẽ muốn đi ra lắm!”.

“Chắc chắn sẽ được ra, cứ yên tâm, đám mèo các con đã làm tốn của ta số vàng tương ứng với cân nặng của các con đấy!”.

Sau đó nghĩ ngợi một chút, rồi Thầy nói thêm: “nhưng cả hai đứa đều đáng giá bằng tất cả số vàng đó”.

Ông Bác sĩ người Ai-len có quen biết vài người Ai-len mù làm nghề đan giỏ, vì vậy Thầy đã đặt làm cho Cô Ku và tôi mỗi đứa một cái. Giỏ được làm to hết cỡ để tạo cho chúng tôi không gian thoải mái. Thầy đề nghị chúng tôi ngủ trong giỏ khoảng một tuần để quen với nó. Chúng tôi đã làm vậy, và thấy rất vui!

“Now, Cats,” said the Guv, “when we leave you will have to be in your baskets, but as soon as we are in flight you can come out and sit with us. All clear?” “All clear, Guv,” said Miss Ku, “we shall want to come out, mind!” “Sure you shall come out, now stop worrying, you have cost me about your weight in gold!” Then he thought a minute and added, “and you are both worth every bit of it.” Mister the Irish Vet knew some blind Irish humans who made baskets, so the Guv had a basket each made for Miss Ku and me. Each was the absolute maximum size and gave us ample room. The Guv suggested that we use the baskets as bedrooms for a week or so in order to become accustomed to them. We did so, and it was fun!

Sức khỏe của Thầy ngày càng xấu đi. Theo lẽ thường thì đúng ra chúng tôi đã phải từ bỏ chuyến đi Canada. Nhưng thay vì thế, Thầy lại đi đến chỗ ông Bác sĩ chuyên khoa người Ai-len và họ đã làm gì đó để Thầy có thể tiếp tục lên đường. Thầy phải nghỉ ngơi ngày càng nhiều hơn, và tôi – hiểu rõ thế nào là tuổi già và bệnh tật –  rất lo sợ về kết quả của toàn bộ những điều này. Thầy đã trải qua nhiều gian khổ và thử thách ở nhiều vùng đất, giờ đây hậu quả của những ngày tháng gian khổ ấy bắt đầu biểu lộ. Cô Ku và tôi săn sóc Thầy hết sức mà chúng tôi có thể.

The Guv’s health worsened. By all the laws of common sense we should have given up the Canadian trip. Instead the Guv went to Doctor the Irish Specialist again and something was done whereby he could keep going. He had to rest more and more and I, knowing what it was to be ill and old, feared greatly for the outcome of it all. The Guv had had hardships and suffering in many lands and now the results of those hardships were showing. Miss Ku and I looked after him as best we could.

“Chúng ta sẽ đi đến Shannon kiểu gì ạ?”, Kẹo Bơ hỏi.

“Chắc chắn KHÔNG đi tàu Ai-len”, thầy trả lời, “bởi vì như thế chúng ta sẽ phải đổi tàu ở Limerick, và tôi không chịu được. Cô và Mẹ đi Dublin xem có ga-ra nào có thể chở chúng ta bằng xe buýt mini không”.

“Chúng ta sẽ đi xuống đó sớm một ngày”, Mẹ nói, “bởi vì ông cần phải nghỉ ngơi một ngày trước khi lên máy bay. Thế cũng tốt hơn cho lũ mèo nữa”.

Thế là họ đi Dublin, tôi và Cô Ku được đặt ngồi lên Thầy để giữ ông ấy ở yên trên giường. Trong khi chờ Mẹ và Kẹo Bơ về, Thầy kể cho chúng tôi nghe câu chuyện của những con mèo ông biết ở Tây Tạng.

“How are we going to get to Shannon?” asked Buttercup. “NOT in the Irish train,” replied the Guv, “we should have to change at Limerick, and I do not feel up to that. You and Ma go to Dublin and see if you can get a garage to drive us down in a Minibus or something” “We will go down a day early,” said Ma, “because you need a day’s rest before going aboard the plane. It will be better for the cats, too.” Off they went to Dublin, leaving Miss Ku and me to sit on the Guv in order to keep him in bed. As we all waited for Ma and Buttercup to return the Guv told us stories of cats he knew in Tibet.

“Mọi việc đã được sắp xếp ổn thỏa”, Mẹ nói, “họ sẵn sàng chở chúng ta và họ có một chiếc xe buýt mini thường dùng cho các tour ngắm cảnh. Người tài xế lái chiếc này thường đi Shannon đón các du khách người Mỹ”.

Giờ thì còn rất ít việc phải làm. Tuy vậy Thầy vẫn phải đi gặp ông Bác sĩ chuyên khoa người Ai-len. Tất cả những việc chuẩn bị này đều được giữ bí mật bởi cánh nhà báo sẽ chẳng để chúng tôi yên. Tôi nhớ không lâu trước đây, khi Thầy ốm nặng và ra ngoài lần đầu tiên để gặp đi gặp Bác sĩ. Ngay khi Thầy vừa bước chân ra khỏi cửa, một tay nhà báo lái xe tới và bắt đầu hỏi những câu thật xấc láo. Thầy luôn kinh ngạc không hiểu vì sao cánh nhà báo lại tự cho họ có cái quyền được tọc mạch vào chuyện của thiên hạ . “Đám lá cải”, Thầy gọi họ như vậy, và ông ấy ước gì có thể ném vài tên xuống bờ vực bên cạnh.

“It is all arranged,” said Ma, “they are willing to take us and they have a Minibus which they use for sightseeing tours. The man who will drive often goes to Shannon to meet American tourists.” Now there was little to be done. The Guv had to go yet again to Doctor the Irish Specialist. All our preparations were being kept very secret because the Press gave us no peace. I remember a short time before, when the Guv had been very ill and was going out for the first time to see the Specialist. As soon as the Guv walked out of the door, a Pressman drove up and started asking him impertinent questions. It always amazed the Guv why pressmen should think they had some sort of divine right to ask questions. “Paid gossips” the Guv called them, and he would dearly have liked to throw them over the cliff.

“Ê, Thỏ Ai-len!, Cô Ku kêu la om sòm, đâu đó chừng mười hai feet dưới bờ dốc.

“Này Thỏ! Chúng tôi chuẩn bị đi xa, đừng có phá phách khu vườn khi chúng tôi vắng mặt đấy nhé”.

Gã Thỏ Ireland không trả lời. Cô Ku hài lòng và thở dốc đi xuống cái lỗ, rồi lại lao lên đỉnh vách đá.

“Này tụi Chim! Tụi Chim! ” Cô Ku hét lên, “tụi tao sẽ bay giống như chúng mày, thậm chí còn bay xa hơn nữa”.

“Suỵt, suỵt! Cô Ku”, tôi can gián, “chúng ta phải giữ bí mật chuyện này. Bây giờ tất cả mấy con chim và gã Thỏ Ai-len đều biết rồi”.

Cô Ku nhìn ngoái qua vai, và tôi cảm thấy cô ấy cứng lại.

“CHUỒN THÔI! Feef”, cô kêu lên, “chạy theo tớ đi, Bản mặt Già nua của ông Bác sĩ thú y đang đến kìa!”.

Chúng tôi phi vào trong nhà, qua bếp và chui tọt vào hầm than.

“Eo ôi!”, Cô Ku rùng mình, “Tớ gần như có thể cảm thấy tai mình tê rần khi nghĩ đến việc họ sẽ rửa chúng”.

Cô Ku lén lút ghé đầu qua một góc, không có ai, bèn liều lĩnh chạy ra ngoài. Có tiếng động. Tiếng nói chuyện ở đầu cầu thang. Ông Bác Sĩ Thú Y người Ai-len nói: “Thuốc an thần. Hãy cho mỗi đứa một liều trước khi đưa chúng lên máy bay và chúng sẽ ở yên, đây là những viên thuốc an thần đặc biệt dành cho chúng”.

Im lặng một lúc, rồi Thầy hỏi một cách nghi ngờ: “Liệu thứ này có ổn cho Feef không?”

“Ồ chắc chắn rồi, ổn cho cả chúng ta nữa”, Ông Bác sĩ thú y Ai-len nói. Họ tản vào một căn phòng và chúng tôi không nghe thấy gì nữa. Dĩ nhiên chúng tôi sẽ không liều lĩnh đến gần không thì sẽ bị tóm và thế nào cũng bị rửa tai. Ông Bác sĩ thú y Ai-len còn chùi rửa tai RẤT kỹ nữa.

“Hey! Irish Rabbit!” yelled Miss Ku, some twelve feet down the cliff face. “Rabbit! We are going away so don’t you wreck the garden in our absence.” Mister the Irish Rabbit did not answer. Miss Ku contented herself with breathing hard down the hole and then, she rushed up to the top of the cliff again. “Birds! BIRDS!” shrieked Miss Ku, “Birds we are going to fly like you, we are going to fly further.” “Hush, hush! Miss Ku,” I remonstrated, “We are supposed to be keeping this a secret. Now all the birds and Mister the Irish Rabbit know.” Miss Ku looked over her shoulder, and I felt her stiffen. “BOLT! Feef,” she exclaimed, “Follow me Old Vet Face is coming!” We rushed indoors, out through the kitchen and into the coal cellar. “Whew!” shuddered Miss Ku, “I can almost feel my ears tingle at the thought of having them cleaned.” Stealthily Miss Ku put her head round the corner, found the coast was clear, and ventured out. Voices. Voices at the head of the stairs. “Tranquilizers,” said Mister the Irish Vet. “Give them one each of these before taking them on the plane and they will rest peacefully, special tranquilizers they are.” There was silence for a time, then the Guv said, doubtfully, “Will they be all right for Feef?” “Oh sure they are all right for her, all right for us too,” said Mister the Irish Vet. They wandered into a room and we heard no more. Certainly we were not going to risk our ears by venturing closer and getting caught. Mister the Irish Vet was VERY efficient at cleaning ears.

Va-li đã được gửi lên tàu thủy. Quần áo, sách, một số thiết bị chụp ảnh và một chiếc máy đánh chữ mới mà Thầy đã mua ngay trước khi quyết định di cư. Bây giờ hành lý mà chúng tôi mang theo đã được chất đầy ở sảnh nhà. Không nhiều, vì người ta không thể mang nhiều bằng đường hàng không. Cô Ku và tôi mỗi người mang HỘP vệ sinh riêng của mình, một mớ Than bùn (mà chúng tôi sử dụng thay thế cho cát), và một lượng thức ăn thoải mái. CHÚNG TÔI sẽ không bị đói! Thầy đang ngồi nói chuyện với bà O’Grady. Ông Loftus thì đứng bên ngoài trông khá xanh xao và lo lắng. Cô Ku và tôi chậm rãi đi dọc lang thang khắp ngôi nhà sắp sửa bị bỏ hoang, tạm biệt những món đồ nội thất yêu dấu. Cô Ku nhảy lên bệ cửa sổ và hét lên “Tạm biệt anh Thỏ, tạm biệt chim”.

Cases had been sent off to be put aboard a ship. Clothes, books, some photographic equipment, and a new electric typewriter which the Guv had bought just before deciding to emigrate. Now the luggage which we were going to take was stacked in the hall. Not much, because one could not take much by air. Miss Ku and I each took our own personal Toilet Tin, an ample supply of Peat Moss (which we used in place of earth), and a comforting quantity of food. WE were not going to be hungry! The Guv sat talking to Mrs. O’Grady. Mr. Loftus was standing outside looking quite pale and worried. Slowly Miss Ku and I wandered through the soon-to-be-deserted house, saying farewell to loved pieces of furniture. Miss Ku jumped on to a window sill and shouted “Goodbye, Mr. Rabbit, goodbye birds.”

“Xe buýt đến rồi!” Mẹ nói.

Những bàn tay hăng hái bắt lấy những chiếc va-li và xếp chúng ở phía sau xe buýt. Ông bà O’Grady cố gắng pha trò để làm nhẹ cuộc chia tay. Ông Loftus già thân yêu thì buồn bã đứng bên cạnh, lén lấy mu bàn tay lau nước mắt. Thầy chậm rãi nhìn lại ngôi nhà để chắc chắn rằng không còn gì sót lại, sau đó từ từ khóa cửa trước và rút chìa khóa, giao cho ông O’Grady để gửi cho bên Luật sư, họ sẽ lo liệu việc xử lý ngôi nhà. Bắt tay nhà O’Grady và ông Loftus một lần nữa, Thầy quay đi và bước vào xe buýt. Cửa đóng sầm lại. Chiếc xe buýt chầm chậm lăn bánh xuống đồi, xa dần sự hiện hữu bằng xương bằng thịt của những người bạn tốt nhất mà chúng tôi có trên thế giới này. Xe rẽ qua góc đường, và khởi hành đến cuộc sống mới.

“The bus is here!” said Ma. Willing hands took the cases and stowed them in the back of the bus. Mr. and Mrs. O’Grady tried to make jokes to lighten the parting. Dear old Mr. Loftus stood sadly by, surreptitiously wiping his eyes with the back of his hands. Slowly the Guv looked over the house to make sure nothing was left, then wearily he locked the front door and withdrew the key, passing it to Mr. O’Grady to send to the Solicitor who was going to see to the disposal of the house. Shaking hands with the O’Gradys and Mr. Loftus once again, the Guv turned away and entered the bus. The door slammed. Slowly the bus rolled down the hill, away from the physical presence of the best friends we had in the world. We turned the corner, and started off to life.

Người dịch: Trần Thị Phận

Biên tập: Tô Phương Trang

Tổng biên tập: Trung tâm VMC

Comments

comments