Chương IV – Hang Động Người Xưa – Lobsang Rampa

Đó là mùa lễ hội Logsar, Tết mừng năm mới của Tây Tạng. Những chú tiểu chúng tôi – và cả các nhà sư – đều bận rộn trong khoảng thời gian này để làm những bức hình bằng bơ. Vì năm ngoái, chúng tôi không bị bắt làm công việc này nên bây giờ chúng tôi cảm thấy không thoải mái; các tu viện khác đã tin tưởng (chính xác là vậy!) rằng chúng tôi ở Chakpori không có thời gian cũng như hứng thú cho những hoạt động  trẻ con như vậy. Năm nay, theo lệnh của Đức Thái Tuế, chúng tôi phải làm những bức hình bằng bơ và tham gia cuộc thi. Nỗ lực của chúng tôi khá khiêm tốn so với một số tu viện khác. Trên một khung gỗ, cao khoảng sáu mét, dài  hơn chín mét, chúng tôi tạo hình bằng bơ màu các cảnh khác nhau theo Kinh Sách. Tượng hình của chúng tôi là ba chiều, và chúng tôi hy vọng rằng khi được nhìn trong ánh sáng của những ngọn đèn bơ nhấp nháy sẽ tạo ra ảo ảnh như chuyển động.

The season was that of Logsar, the Tibetan New Year. We chelas—and trappas also—had been busy for some time now, making butter images. Last year we had not bothered and had therefore occasioned some ill feeling; other lamaseries had held to the belief (correctly!) that we of Chakpori had neither time nor interest for such childish pursuits. This year, then, by order of the Inmost One Himself, we had to make butter images and enter the contest. Our effort was a modest one compared to that of some lamaseries. On a wooden framework, some twenty feet high by thirty feet long, we were moulding in coloured butter various scenes from the Sacred Books. Our figures were fully three dimensional, and we hoped that when seen by the light of the flickering butter lamps there would be an illusion of movement.

Đức Thái Tuế, và tất cả các Lạt ma cấp cao, đều đến thăm các cuộc triển lãm hàng năm và dành nhiều phần thưởng cho những người tham gia đã nỗ lực giành được chiến thắng. Sau mùa lễ hội Logsar, bơ được nấu chảy và cất giữ để sử dụng thắp đèn bơ quanh năm. Trong khi làm việc – tôi đã có được một số kỹ năng về nghệ thuật tạo hình – tôi đã nghĩ đến tất cả những gì đã học được trong mấy tháng qua. Vẫn còn một số điều về tôn giáo khiến tôi phân vân và quyết định hỏi Thầy mình là Lạt ma Minh Gia Đại Đức ngay khi có cơ hội, nhưng bây giờ điêu khắc bơ là việc quan trọng! Tôi khom người nhặt một khối bơ tươi có màu da và thận trọng trèo lên giàn giáo để có thể tạo hình tai giống như của Đức Phật. Ở bên phải tôi, hai chú tiểu trẻ tuổi đang giỡn với nhau bằng quả bóng bơ, họ nặn bơ thành những quả bóng tròn, rồi ném vào “đối thủ”. Đang chơi vui vẻ, thật không may, một nhà sư giám thị xuất hiện bên kia cột đá tìm nguồn gốc của sự ồn ào. Không nói một lời, ông ta tóm cả hai cậu bé, mỗi tay một đứa, và ném cả hai vào một thùng lớn đầy bơ ấm!

The Inmost One Himself, and all the senior lamas, viewed the exhibits every year and much praise was accorded the builders of the winning effort. After the Season of Logsar the butter was melted down and used in the butter lamps throughout the year. As I worked—I had some skill in modeling—I thought of all that I had learned during the past few months. Certain things about religion still puzzled me and I resolved to ask my Guide the Lama Mingyar Dondup about them at the first opportunity, but now butter sculpture was the thing! I stooped and scraped up a fresh load of flesh-coloured butter and carefully climbed up the scaffolding so that I could build up the ear to Buddha-like proportions. Off to my right two young chelas were having a butter ball fight, scooping up hand loads of butter, moulding the stuff roughly round, then throwing that messy missile at the “enemy”. They were having a great time, unfortunately a monk-proctor appeared round a stone pillar to see what all the noise was about. Without a word he seized both boys, one in his right hand and the other in his left and threw them both into a great vat of warm butter!

Tôi quay lại và tiếp tục công việc của mình. Bơ trộn với muội đen của đèn tạo thành đôi lông mày rất hợp. Vậy là nhân vật đã có vẻ sống động. Tôi nghĩ “Rốt cuộc đây là Thế giới của Ảo ảnh.” Trèo thang đi xuống, tôi đi ra xa để có cảm nhận tốt hơn về tác phẩm. Thầy giáo dạy nghệ thuật mỉm cười với tôi; Tôi có lẽ là học trò cưng của ông vì tôi thích nghệ thuật tạo hình, vẽ tranh, và làm việc nghiêm túc để có thể học hỏi được nhiều từ ông. “Lobsang, chúng ta đang làm rất tốt.” ông hài lòng nói, “Các vị thần trông thật sống động.” Ông đi sang với các học trò đang tạo hình phần khác của bức tranh và tôi nghĩ, “Các vị Thần trông thật sống động! Có các vị Thần không? Tại sao chúng ta được dạy về họ nếu họ không tồn tại? Mình phải đi hỏi Thầy mới được”.

I turned and got on with my work. Butter mixed with lamp-black formed very suitable eyebrows. Already there was illusion of life in the figure. “This is the World of Illusion, after all,” I thought. Down I climbed, and walked across the floor so that I could obtain a better impression of the work. The Master of the Arts smiled upon me; I was perhaps his favourite pupil as I liked modeling and painting and really worked to learn from him. “We are doing well, Lobsang,” he said pleasantly, “the Gods look alive.” He walked away in order that he could direct alterations to another part of the scene and I thought, “The Gods look alive! Are there Gods? Why are we taught about them if there are none? I must ask my Guide.”

Tôi cẩn thận cạo sạch lớp bơ trên tay. Ở trong góc, hai chú tiểu bị ném vào bơ ấm đang cố gắng chà xát cơ thể bằng cát nâu mịn để làm sạch bơ, trông rất vụng về. Tôi cười khúc khích và quay người bước đi. Một chú tiểu khác nặng nề đi bên cạnh tôi và nhận xét, “Ngay cả các vị Thần cũng phải cười!” Điệp khúc “Ngay cả các vị Thần – Ngay cả các vị Thần – Ngay cả các vị Thần” vọng lại trong tâm trí tôi theo từng bước chân. Các vị Thần, có các vị Thần không? Tôi bước xuống đi vào Đền thờ và an tọa chờ buổi lễ quen thuộc bắt đầu. “Hãy lắng nghe Tiếng nói của Linh hồn chúng ta, hỡi những hồn ma lang thang. Đây là Thế giới của Ảo ảnh. Cuộc sống chỉ là một giấc mơ. Tất cả những gì được sinh ra đều phải chết đi”. Giọng của vị tu sĩ trầm xuống, đọc thuộc lòng những câu kinh nổi tiếng, những câu mà giờ đây đã thôi thúc sự tò mò của tôi; “Cây hương thứ ba được thắp lên, hãy đến với chúng tôi, hỡi hồn ma lang thang, bạn sẽ được chỉ dẫn.” Tôi nghĩ: “Không phải được các vị thần giúp đỡ, mà chỉ được đồ dệ của họ chỉ dẫn, tại sao không phải là các vị Thần chỉ dẫn? Tại sao chúng ta lại cầu nguyện với Chân ngã của chính mình mà không phải là với Thượng đế?” Phần còn lại của buổi lễ không có gì hấp dẫn, không có ý nghĩa gì đối với tôi. Tôi bị đánh bật ra khỏi dòng suy nghĩ bởi một cùi chỏ chọc mạnh vào sườn. “Lobsang! Lobsang! Cậu có chuyện gì vậy, cậu chết rồi à? buổi lễ đã xong rồi!” Tôi loạng choạng đứng dậy và theo những người khác ra khỏi Đền thờ.

Thoughtfully I scraped the butter from my hands. Over in the corner the two chelas who had been thrown into the warm butter were trying to get themselves clean by rubbing their bodies with fine brown sand, looking very foolish indeed as they rubbed away. I chuckled and turned to go. A heavy-set chela walked beside me and remarked, “Even the Gods must have laughed at that!” “Even the Gods—Even the Gods—Even the Gods” the refrain echoed through my mind in time with my footsteps. The Gods, were there Gods? I walked on down to the Temple and settled myself waiting for the familiar service to commence. “Hear the Voices of our Souls, all you who wander. This is the World of Illusion. Life is but a dream. All that are born must die.” The priest’s voice droned on, reciting the well-known words, words which now struck at my curiosity; “The third stick of incense is lit to summon a wandering ghost that he may be guided.” “Not helped by the Gods,” I thought, “but guided by his fellow men, why not by the Gods? Why did we pray to our Overself and not to a God?” The rest of the service had no attraction, no meaning for me. I was jolted out of my thoughts by an elbow digging violently into my ribs. “Lobsang! Lobsang! What is the matter with you, are you dead? Get up, the service is over!” I stumbled to my feet and followed the others out of the Temple.

“Thưa Thầy!” vài giờ sau, tôi nói với Lạt ma Minh Gia Đại Đức, “Thưa Thầy! Có Thượng đế không ạ? Hay có các vị Thần không ạ?” Người nhìn tôi và nói, “Lobsang, chúng ta hãy lên ngồi trên mái nhà đi, chúng ta khó có thể nói chuyện ở một nơi đông đúc như ở đây.” Người quay lại và dẫn đường dọc theo hành lang, qua khu nhà của các Lạt ma, trèo lên cột thang tới mái nhà. Trong một lúc, chúng tôi đứng ngắm nhìn khung cảnh đẹp mê hồn, những dãy núi cao chót vót, dòng nước sáng lấp lánh của Kyi Chu và bãi sậy Kaling Chu. Dưới chân chúng tôi là công viên Norbu Linga, hay còn gọi là Jewel Park, là cả một mảng xanh đầy sức sống. Thầy khoát tay. “Con có nghĩ tất cả những điều này là ngẫu nhiên không, Lobsang? Tất nhiên là có Thượng đế!” Chúng tôi di chuyển lên nơi cao nhất của mái nhà và ngồi xuống.

“Sir!” I said to my Guide the Lama Mingyar Dondup some hours later, “Sir! Is there a God? Or Gods?” He looked down at me and said, “Let us go and sit on the roof, Lobsang, we can hardly talk here in this crowded place.” He turned and led the way along the corridor, out through the Lamas’ quarters, up the notched pole and so on to the roof. For a moment we stood looking at the well-loved scene, the towering mountain ranges, the bright water of the Kyi Chu, and the reed-girt Kaling Chu. Beneath us the Norbu Linga, or Jewel Park, showed as a mass of living green. My Guide waved his hand. “Do you think all this is chance, Lobsang? Of course there is a God!” We moved to the highest part of the roof and sat down.

“Lobsang, trong con đang rất mông lung,” Thầy tôi nói. “Có một Thượng đế; có các vị Thần. Khi ở trên Trái đất này, chúng ta không thể xác định được Hình dạng cũng như Bản chất của Thượng đế. Chúng ta đang sống trong cái có thể gọi là thế giới ba chiều: Thượng đế sống trong một thế giới xa xôi đến nỗi bộ não của con người khi ở trên Trái đất không thể có được khái niệm cần thiết về Ngài và do đó con người có xu hướng hợp lý hóa. ‘Thượng đế’ được xem như là của con người, là siêu nhân nếu con thích thuật ngữ này hơn, nhưng Con người lại tự phụ tin rằng mình được tạo ra theo Hình ảnh của Thượng đế! Con người cũng tin rằng không có sự sống trên những thế giới khác. Nếu Con người được tạo ra theo Hình ảnh của Thượng đế và con người ở các thế giới khác sẽ mang hình ảnh khác – thì quan niệm rằng Con người được tạo ra theo Hình ảnh của Thượng đế sẽ ra sao?” Vị Lạt ma chăm chú nhìn tôi để chắc chắn rằng tôi đang theo dõi những điều Ngài đang nói. Chắc chắn là tôi đang lắng nghe, tất nhiên rồi.

“You are confused in your thinking, Lobsang,” stated my Guide. “There is a God; there are Gods. While upon this Earth we are in no position to appreciate the Form and Nature of God. We live in what may be termed a three-dimensional world: God lives in a world so far removed that the human brain while on earth, cannot hold the necessary concept of God and thus men tend to rationalise. ‘God’ is assumed to be something human, superhuman if you prefer the term, but Man, in his conceit, believes that he is made in the Image of God! Man also believes that there is no life on other worlds. If Man is made in the Image of God and the peoples of other worlds are in a different image—what is to become of our concept that Man only is made in God’s Image?” The Lama looked keenly at me to make sure that I was following his remarks. Most certainly I was; all this appeared self-evident.

“Mỗi thế giới, mỗi quốc gia trên tất cả các thế giới, đều có Thượng đế của mình, hay Thiên thần Hộ mệnh. Chúng ta gọi vị Thần cai quản thế giới là Manu. Ngài là một Linh hồn tiến hóa cao, một con người thông qua việc hóa thân hết lần này sang lần khác đã thanh tẩy mọi cặn bã, chỉ còn lại sự thuần khiết. Có một hội đồng các Đấng vĩ đại, những người vào lúc cần thiết sẽ đến Trái đất này để làm gương, nhờ đó người phàm trần có thể vươn lên khỏi vũng lầy của những ham muốn trần tục.”

“Every world, every country of every world, has its God, or Guardian Angel. We call the God in charge of the world the Manu. He is a highly evolved Spirit, a human who through incarnation after incarnation has purged the dross, leaving only the pure behind. There is a band of Great Beings who at times of need come to this Earth that they may set an example whereby ordinary mortals may be enabled to lift from the mire of worldly desires.”

Tôi gật đầu; Tôi biết về điều này, biết rằng Đức Phật, Moses, Chúa Kitô và nhiều người khác thuộc Dòng tu đó. Tôi cũng biết về Đức Di Lặc (Maitreya), người được ghi trong Kinh sách Phật giáo, sẽ đến thế giới 5,656 triệu năm sau khi Đức Phật, hay Cồ Đàm (Gautama) theo cách gọi chính xác hơn, nhập diệt. Tất cả những điều này, và còn nhiều điều khác nữa, là một phần của việc giảng dạy tôn giáo chuẩn mực của chúng tôi cũng là những kiến thức mà bất kỳ người nào cũng có cơ hội tiếp cận như nhau bất kể họ đang đặt niềm tin vào tôn giáo nào. Chúng tôi không bao giờ tin rằng chỉ có một giáo phái “lên Thiên đường”, và tất cả những giáo phái khác đều bị rơi xuống Địa ngục vì thú vui của những loài quỷ sứ khát máu vớ vẩn. Nhưng Thầy tôi  đã nói tiếp.

I nodded my head; I knew about this, knew that Buddha, Moses, Christ and many others were of that Order. I knew also of Maitreya, who, it is stated in the Buddhist Scriptures, will come to the world 5,656 million years after the passing of Buddha, or Gautama as He should more accurately be named. All this, and more, was part of our standard religious teaching as was the knowledge that any good person had an equal chance no matter what name his own religious belief carried. We never believed that only one religious sect “went to Heaven,” and all others were tumbled down to Hell for the amusement of sundry sanguinary fiends. But my Guide was ready to continue.

“Chúng ta có Đức Manu của thế giới, Đấng Tiến hóa Vĩ đại, người kiểm soát vận mệnh của thế giới. Có những Vị Manu nhỏ, những người kiểm soát vận mệnh của một đất nước. Trong những năm dài vô tận, Manu Thế giới sẽ tiếp tục, và những người giỏi nhất kế tiếp, hiện đang được đào tạo cẩn thận, sẽ tiến hóa, sẽ tiếp quản Trái đất. ” “A!” Tôi thốt lên vẻ đắc thắng, “thế thì không phải tất cả các Vị Manu đều tốt! Vị Manu của nước Nga đang cho phép người Nga hành động chống lại lợi ích của chúng ta. Vị Manu của Trung Quốc cho phép người Trung Quốc tấn công biên giới của chúng ta và giết người dân của chúng ta.” Lạt ma mỉm cười với tôi. “Con quên rồi sao, Lobsang,” Người đáp lại “thế giới này là Địa ngục, chúng ta đến đây để học những bài học. Chúng ta đến đây để trải qua khổ đau thì linh hồn của chúng ta mới có thể tiến hóa. Khó khăn dạy dỗ con người, đau đớn cũng vậy, nhưng lòng tốt và sự quan tâm thì không. Có những cuộc chiến để con người thể hiện lòng can đảm trên chiến trường và — như quặng sắt trong lò — được tôi luyện và củng cố bởi ngọn lửa chiến trận. Cơ thể bằng xương bằng thịt không quan trọng, Lobsang, đó chỉ là một con rối tạm thời. Linh hồn, Tâm thức, Chân ngã (gọi nó là gì tùy con) là tất cả những gì cần được quan tâm. Trên Trái đất, trong tình trạng mù quáng của chúng ta, chúng ta nghĩ rằng chỉ cơ thể mới là quan trọng. Nỗi sợ cho thân xác có thể phải đau đớn khổ sở làm mờ đi tầm nhìn của chúng ta và làm sai lệch khả năng xét đoán của chúng ta. Chúng ta phải hành động vì lợi ích của Chân ngã chính mình, trong khi vẫn giúp đỡ những người khác. Những người mù quáng tuân theo mệnh lệnh độc đoán của cha mẹ sẽ thêm gánh nặng cho cha mẹ họ cũng như cho chính họ. Những người mù quáng tuân theo sự sai khiến của một niềm tin tôn giáo cứng nhắc nào đó cũng sẽ ngăn cản sự tiến hóa của họ”.

“We have the Manu of the world, the Great Evolved Being who controls the destiny of the world. There are minor Manus who control the destiny of a country. In endless years, the World Manu will move on, and the next best, now well trained, will evolve, will take over the Earth.” “Ah!” I exclaimed in some triumph, “then not all Manus are good! The Manu of Russia is allowing Russians to act against our good. The Manu of China permits the Chinese to raid our borders and kill our people.” The Lama smiled across at me. “You forget, Lobsang,” he replied, “this world is Hell, we come here to learn lessons. We come here to suffer that our spirit may evolve. Hardship teaches, pain teaches, kindness and consideration do not. There are wars in order that men may show courage on the battlefields and—like iron ore in the furnace—be tempered and strengthened by the fire of battle. The flesh body does not matter, Lobsang, that is only a temporary puppet. The Soul, the Spirit, the Overself (call it what you will) is all that need be considered. On Earth, in our blindness, we think that the body alone matters. Fear that the body may suffer clouds our outlook and warps our judgement. We have to act for the good of our own Overselves, while still assisting others. Those who follow blindly the dictates of overbearing parents add a load to the parents as well as to themselves. Those who blindly follow the dictates of some stereotyped religious belief also cramp their evolution.”

“Thưa Thầy!” Tôi góp ý, “con có thể bổ sung thêm hai nhận xét nữa được không?” “Được, con nói đi,” Người trả lời. “Thầy nói rằng chúng ta sẽ học nhanh hơn nếu điều kiện khắc nghiệt. Con muốn có thêm chút lòng tốt. Con có thể học được theo cách đó.” Người trầm ngâm nhìn tôi. “Con có thể không?” Người hỏi. “Liệu con có học được Sách Thánh nếu con không sợ thầy giáo không? Liệu con có làm phần công việc của mình trong nhà bếp nếu con không sợ bị trừng phạt vì lưởi biếng không? Con có làm không? ” Tôi cúi đầu, đúng vậy, tôi đã làm việc trong nhà bếp khi bị ra lệnh. Tôi nghiên cứu Sách Thánh vì tôi sợ bị trượt. “Và câu hỏi tiếp theo của con là gì?” Vị Lạt ma hỏi. “Chà, thưa Thầy, làm thế nào mà một tôn giáo cứng nhắc lại làm tổn hại đến sự tiến hóa của một người?” “Ta sẽ cho con hai ví dụ,” Người trả lời. “Người Trung Quốc tin rằng họ đã làm gì trong cuộc đời này không quan trọng vì họ có thể trả giá cho những lỗi lầm và tội lỗi khi họ tái sinh. Vì vậy, họ lười biếng về tinh thần. Tôn giáo của họ trở thành thuốc phiện và làm họ đờ đẫn trong sự lười biếng về tinh thần; họ chỉ sống cho đời sau, nên nghệ thuật và hàng thủ công của họ không còn được dùng đến. Vì thế, Trung Quốc đã trở thành một cường quốc đứng thứ ba với các thủ lĩnh quân phiệt tàn ác bắt đầu một triều đại khủng bố và cướp bóc.”

“Honourable Lama!” I expostulated, “may I add two comments?” “Yes, you may,” replied my Guide. “You said that we learn more quickly if conditions are harsh. I would prefer a little more kindness. I could learn that way.” He looked thoughtfully at me. “Could you?” he asked. “Would you learn the Sacred Books even if you did not fear the teachers? Would you do your share in the kitchens if you did not fear punishment if you lazed? Would you?” I hung my head, it was right, I worked in the kitchens when ordered to. I studied the Sacred Books because I feared the result of failure. “And your next question?” asked the Lama. “Well, Sir, how does a stereotype religion injure one’s evolution?” “I will give you two examples,” replied my Guide. “The Chinese believed that it did not matter what they did in this life as they could pay for faults and sins when they came again. Thus they adopted a policy of mental slothfulness. Their religion became as an opiate and drugged them into spiritual laziness; they lived only for the next life, and so their arts and crafts fell into disuse. China thus became a third-rate power in which bandit war-lords started a reign of terror and pillage.”

Tôi đã nhận thấy rằng người Trung Quốc ở Lhasa dường như tàn bạo và khắc nghiệt một cách thái quá. Cái chết đối với họ không có ý nghĩa gì hơn là đi đến một căn phòng khác! Tôi không sợ cái chết theo bất kỳ cách nào, nhưng tôi muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình trong một kiếp sống thay vì trì hoãn, và phải đến Thế giới này hết lần này đến lần khác. Quá trình từ khi sinh ra, là một đứa trẻ không được chăm sóc, phải đi học, tất cả những điều đó đối với tôi đều rất khó khăn. Tôi hy vọng rằng kiếp sống này sẽ là kiếp cuối cùng của mình trên Trái đất. Người Trung Quốc đã có những phát minh tuyệt vời, những tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời, và một nền văn hóa tuyệt vời. Giờ đây, do quá lệ thuộc một cách mù quáng vào niềm tin tôn giáo, người dân Trung Quốc đã trở nên sa sút và trở thành con mồi cho chủ nghĩa Cộng sản. Có một thời, tuổi tác và học vấn đã được coi trọng sâu sắc ở Trung Quốc như nó cần được như thế, còn bây giờ – các nhà hiền triết không còn được tôn vinh nữa; tất cả những gì quan trọng bây giờ là bạo lực, lợi ích cá nhân và sự ích kỷ.

I had noticed that the Chinese in Lhasa seemed to be unnecessarily brutal and quite fatalistic. Death to them meant nothing more than passing to another room! I did not fear death in any way, but I wanted to get my task finished in one lifetime instead of slacking, and having to come to this World time after time. The process of being born, being a helpless baby, having to go to school, all that to me was trouble. I hoped that this life would be my last on Earth. The Chinese had had wonderful inventions, wonderful works of art, a wonderful culture. Now, through too slavishly adhering to a religious belief, the Chinese people had become decadent, a ready prey to Communism. At one time age and learning had been deeply respected in China, as should be the case, now—no more were the sages given the honour due to them; all that mattered now was violence, personal gain and selfishness.

“Lobsang!” Giọng Thầy cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. “Chúng ta đã thấy một tôn giáo dạy không cần hành động, dạy rằng người ta không nên gây ảnh hưởng đến người khác theo bất kỳ cách nào nếu người ta không muốn thêm vào Nhân quả của chính mình – món nợ truyền từ đời này sang đời khác.” Người ngắm nhìn Thành phố Lhasa, Thung lũng yên bình của chúng tôi, rồi lại quay sang tôi. “Các tôn giáo của phương Tây có xu hướng rất hiếu chiến. Những người ở đó không thỏa mãn với việc mình tin vào tôn giáo của mình, mà còn sẵn sàng giết người khác để bắt họ phải tin theo”. Tôi nhận xét: “Con không thấy giết người lại là hành động của một tôn giáo tốt.” “Không, Lobsang,” Lạt ma trả lời, “nhưng trong thời kỳ Tòa án dị giáo Tây Ban Nha, một nhánh của Cơ đốc giáo đã tra tấn bất kỳ nhánh nào khác để họ có thể được ‘cải đạo và được cứu rỗi.’ Người ta bị căng trên những cái cọc và thiêu sống để buộc phải thay đổi niềm tin của mình! Ngay cả bây giờ họ còn gửi những người truyền giáo, những người cố gắng bằng mọi cách để thuyết phục những người khác cải đạo. Có vẻ như họ không chắc chắn về niềm tin của mình đến mức cần có những người khác bày tỏ sự tán thành và đồng ý với tôn giáo của họ – có lẽ là họ cần sự an toàn về số lượng!”

“Lobsang!” The voice of my Guide broke in to my thoughts. “We have seen a religion which taught inaction, which taught that one should not in any way influence another in case one added to one’s own Kharma—the debt which passes on from life to life.” He looked out across the City of Lhasa, seeing our peaceful Valley, then turned to me again. “Religions of the West tend to be very militant. People there are not content to believe what they want to believe, but they are willing to kill others to make them believe the same.” “I don’t see how killing a person would be good religious practice,” I remarked. “No, Lobsang,” replied the Lama, “but in the time of the Spanish Inquisition one branch of Christians tortured any other branch in order that they might be ‘converted and saved.’ People were stretched on the rack and burned at the stake that they might thus be persuaded to change their belief! Even now these people send out missionaries who try by almost any means to obtain converts. It seems that they are so unsure of their belief that they must have others express approval and agreement of their religion—on the lines, presumably, that there is safety in numbers!”

“Thưa Thầy!” Tôi nói, “Thầy có nghĩ là mọi người nên theo một tôn giáo nào đó không?” “Tại sao, chắc chắn rồi, nếu họ mong muốn như vậy,” Lạt ma Minh Gia Đại Đức trả lời. “Nếu mọi người chưa đạt đến giai đoạn mà họ có thể chấp nhận Chân ngã, và Vị Manu của Vạn vật, thì đó có thể là niềm an ủi cho họ khi tuân theo một hệ thống tôn giáo chính thống nào đó. Đó là một kỷ luật về tinh thần và tâm linh, nó làm cho một số người cảm thấy rằng họ thuộc về một nhóm gia đình, với một người Cha nhân từ trông nom họ, và một người Mẹ nhân từ luôn sẵn sàng cầu xin Cha thay cho họ. Đúng vậy, trong một giai đoạn tiến hóa nhất định, tôn giáo như vậy là tốt cho họ. Nhưng những người như vậy càng sớm nhận ra rằng họ nên cầu nguyện với Chân ngã của chính mình thì họ càng sớm tiến hóa. Đôi khi chúng ta được hỏi tại sao chúng ta lại có Hình ảnh các vị Thánh trong các Đền thờ của mình, hoặc tại sao chúng ta lại có Đền thờ. Chúng ta có thể trả lời rằng những Hình ảnh như vậy là lời nhắc nhở rằng chúng ta cũng có thể tiến hóa và rồi sẽ trở thành những Đấng toàn năng như vậy. Vì Đền thờ của chúng ta là nơi mà những người có cùng chí hướng có thể tụ tập với mục đích trao sức mạnh cho nhau trong nhiệm vụ vươn tới Chân ngã. Bằng cách cầu nguyện, ngay cả khi lời cầu nguyện đó không được hướng dẫn đúng cách, người ta vẫn có thể đạt được tốc độ rung động cao hơn. Thiền định và chiêm nghiệm trong Đền thờ, Giáo đường Do Thái hoặc Nhà thờ đều có lợi”.

“Sir!” I said, “do you think people should follow a religion?” “Why, certainly, if they so desire,” replied the Lama Mingyar Dondup. “If people have not yet reached the stage where they can accept the Overself, and the Manu of the World, then it may be a comfort for them to adhere to some formal system of religion. It is a mental and spiritual discipline, it makes some people feel that they belong within a family group, with a benevolent Father watching over them, and a compassionate Mother ever ready to intercede on their behalf with the Father. Yes, for those in a certain stage of evolution, such religion is good. But the sooner such people realise that they should pray to their Overself the sooner will they evolve. We are sometimes asked why we have Sacred Images in our Temples, or why we have Temples at all. To that we can reply that such Images are reminders that we too can evolve and in time become high Spiritual Beings. As for our Temples, they are places where people of like mind may congregate for the purpose of giving mutual strength in the task of reaching one’s Overself. By prayer, even when that prayer be not properly directed, one is able to reach a higher rate of vibration. Meditation and contemplation within a Temple, a Synagogue, or Church is beneficial.”

Tôi suy ngẫm về điều vừa được nghe. Phía dưới chúng tôi, dòng sông Kaling Chu róc rách và chảy nhanh hơn khi ứ lại dưới chân Cầu của đường Lingkhor. Nhìn về phía nam, tôi nhận ra một nhóm người đang đợi người lái phà của Kyi Chu. Các thương gia đã đến từ sáng sớm, mang theo cho Thầy tôi giấy tờ và tạp chí từ Ấn Độ cũng như từ các quốc gia xa lạ trên thế giới. Lạt ma Minh Gia Đại Đức đã từng đi xa, vẫn thường xuyên theo dõi chặt chẽ các vấn đề bên ngoài Tây Tạng. Báo, tạp chí. Một ý nghĩ chợt nảy ra từ sâu thẳm trong tâm trí tôi. Có một cái gì đó cần phải nói trong buổi thảo luận này. Báo chí? Đột nhiên tôi nhảy dựng lên như bị kiến đốt. Không phải là báo, mà là một cuốn tạp chí! Tôi đã nhìn thấy một cái gì đó, bây giờ nó là cái gì nhỉ? Tôi biết rồi! Tất cả đều rõ ràng đối với tôi; Tôi đã lướt qua một số trang, không hiểu một từ tiếng nước ngoài nào, nhưng đang tìm kiếm hình ảnh. Ngón tay tôi dừng lại ở một trang. Hình ảnh một sinh vật có cánh bay lượn trên mây, lơ lửng trên chiến trường đẫm máu. Tôi đưa Thầy xem hình ảnh, Người đã đọc và dịch cho tôi chú thích.

I mused upon that which I had just heard. Below us the Kaling Chu tinkled and ran faster as it squeezed to crowd itself beneath the Bridge of the Lingkhor Road. Off to the south I perceived a party of men waiting for the Ferryman of the Kyi Chu. Traders had come earlier in the day, bringing papers and magazines for my Guide. Papers from India, and from strange countries of the world. The Lama Mingyar Dondup had traveled far and often, and kept in close touch with affairs outside Tibet. Papers, magazines. I had a thought at the back of my mind. Something that had bearing on this discussion. Papers? Suddenly I jumped as if stung. Not papers, but a magazine! Something I had seen, now what was it? I knew! It was all clear to me; I had flicked over some pages, not understanding a single word of the foreign languages, but seeking pictures. One such page had stopped beneath my questing thumb. The picture of a winged being hovering in the clouds, hovering above a field of bloody battle. My Guide, to whom I had shown the picture, had read and translated for me the caption.

“Thưa Thầy tôn kính!” Tôi phấn khích thốt lên, “Sáng sớm hôm nay, Thầy đã nói về Hình ảnh đó – Thầy gọi nó là Thiên thần của Mons[1] – mà nhiều người tuyên bố đã nhìn thấy trên chiến trường. Đó có phải là Thượng đế không? ” “Không, Lobsang,” Người trả lời, “có rất rất nhiều người, trong giờ phút tuyệt vọng của mình, đã khao khát được nhìn thấy hình bóng một vị Thánh, hay theo cách gọi của họ, một Thiên thần. Nhu cầu cấp thiết của họ và cảm xúc mạnh mẽ vốn có trên chiến trường đã tiếp thêm sức mạnh cho tư tưởng, mong muốn và lời cầu nguyện của họ. Vì vậy, như ta đã chỉ cho con, họ đã tạo ra một hình tư tưởng theo đặc điểm của riêng mình. Khi hình tư tưởng xuất hiện, những lời cầu nguyện và ý nghĩ của những người tạo ra nó càng được củng cố, và do đó, hình tư tưởng càng có thêm sức mạnh, cô đặc và tồn tại trong một khoảng thời gian đáng kể. Chúng ta cũng làm điều tương tự ở đây khi ‘tạo nên những hình tư tưởng’ bên trong Đền thờ. Nhưng hãy đi thôi, Lobsang, hết ngày rồi và buổi lễ Logsar vẫn chưa kết thúc. ”

“Honourable Lama!” I exclaimed excitedly, “earlier today you told me of that Figure—you called it the Angel of Mons—which many men claimed to see above a battlefield. Was that a God?” “No, Lobsang,” replied my Guide, “many many men, in the hour of their desperation, longed to see the figure of a Saint, or as they term it, an Angel. Their urgent need and strong emotions inherent in a battlefield gave strength to their thoughts, their desires and their prayers. Thus, in the manner of which I have shown you, they formed a thought form to their own specifications. As the first ghostly outline of a figure appeared, the prayers and thoughts of the men who caused it were intensified, and so the figure gained in strength and solidity and persisted for an appreciable time. We do the same thing here when we ‘raise thought-forms’ in the Inner Temple. But come, Lobsang, the day is far advanced and the Ceremonies of Logsar are not yet concluded.”

Chúng tôi đi dọc theo hành lang, hòa vào khung cảnh nhộn nhịp, bận rộn náo động vốn là cuộc sống hàng ngày bên trong một tu viện trong Mùa Lễ. Thầy giáo nghệ thuật đến tìm tôi, ông cần một cậu bé người nhỏ, nhẹ trèo lên giàn giáo và thay đổi một số chi tiết cho đỉnh đầu của một nhân vật. Tôi bước nhanh đi theo Thầy giáo xuống con đường trơn trượt để đến Phòng Bơ. Tôi mặc một chiếc áo choàng cũ, một bên được phủ một lớp bơ đủ màu sắc, và buộc một dây quanh eo để có thể kéo vật liệu, tôi leo lên giàn giáo. Đúng như lời thầy phỏng đoán, một phần đầu đã vỡ ra, rời khỏi thanh gỗ. Gọi xuống báo những thứ tôi cần, tôi thả sợi dây lủng lẳng và kéo lên một thùng bơ. Tôi đã làm việc trong vài giờ, xoắn những mảnh gỗ mỏng quanh các thanh chống của tấm phông nền, nặn lại bơ để giữ phần đầu ở đúng vị trí. Cuối cùng, thầy giáo nghệ thuật đứng dưới đất quan sát kỹ lưỡng và cho biết rằng ông đã hài lòng. Chậm rãi, chắc chắn,  tôi rời khỏi giàn giáo và từ từ trèo xuống đất. Tôi vui mừng thay áo choàng và vội vã rời đi.

We walked down the corridor, down into the scene of bustle, the busy turmoil which was the everyday life within a lamasery during a Season of Celebration. The Master of the Arts came in search of me, wanting a small, light boy to climb the scaffold and make some alterations to the head of a figure at the top. Trailing in the Master’s wake, I followed him at a brisk pace down the slippery path to the Butter Room. I donned an old robe, one liberally coated with coloured butter, and tying a light line around my waist that I might haul up material, I climbed the scaffold. It was as the Master had surmised, part of the head had broken away from the wooden slats. Calling down what I wanted, I dangled my rope and pulled up a pail of butter. For some hours I worked, twisting slivers of thin wood round the struts of the backing, moulding once again the butter to hold the head in place. At long last, the Master of the Arts, watching critically from the ground, indicated that he was satisfied. Slowly, stiffly, I disentangled myself from the scaffolding and slowly descended to the ground. Thankfully I changed my robe and hurried off.

Ngày hôm sau, tôi và nhiều chú tiểu khác đã xuống đồng bằng Lhasa, dưới chân Potala, gần Làng Shö. Về lý thuyết, chúng tôi đang xem các cuộc rước, các trò chơi và các cuộc đua. Trên thực tế, chúng tôi đang thể hiện trước những người hành hương tầm thường, những người đã vượt qua những con đường núi để họ có thể đến Lhasa vào dịp lễ Logsar. Từ khắp nơi trên thế giới Phật giáo, họ đến đây, Thánh địa của Phật giáo. Những người đàn ông già nua vì tuổi tác, những phụ nữ trẻ đang mang theo mình những đứa trẻ, tất cả đều tin tưởng rằng khi hoàn thành con đường vòng quanh thành phố và Potala linh thiêng, họ sẽ chuộc lại tội lỗi trong quá khứ và đảm bảo tái sinh tốt đẹp trong kiếp sau trên Trái đất. Các thầy bói tụ tập thành những đám đông trên đường Lingkhor, những người ăn xin già nua van vỉ để được bố thí, và những người buôn bán đeo hàng hóa trên vai len lỏi qua các đám đông để tìm khách mua hàng. Chẳng bao lâu sau, tôi mệt mỏi với cảnh náo loạn, mệt mỏi với đám đông đang há hốc miệng với những câu hỏi ngớ ngẩn, vô tận của họ. Tôi chuồn khỏi những người bạn đồng hành của mình và từ từ lang thang trên con đường núi để về ngôi nhà lạt ma viện của mình.

The next day I and many other chelas were down on the Plain of Lhasa, at the foot of the Potala, by the Village of Shö. In theory we were watching the processions, the games, and the races. In actuality we were showing off in front of the humble pilgrims who thronged the mountain paths that they might be in Lhasa at the time of Logsar. From all over the Buddhist world they came, to this, the Mecca of Buddhism. Old men crippled with age, young women carrying small babies, all came in the belief that in completing the Holy Circuit of the City and the Potala, they were atoning for past sins and ensuring a good rebirth to the next life on Earth. Fortune tellers thronged the Lingkhor Road, ancient beggars whined for alms, and traders with their goods suspended from their shoulders pushed their way through the throngs in search of customers. Soon I tired of the frenzied scene, tired of the gaping multitude and their endless, inane questions. I slipped away from my companions and slowly wandered up the mountain path to my lamastic home.

Trên mái nhà, nơi yêu thích của tôi, tất cả đều yên tĩnh. Mặt trời mang đến một sự ấm áp nhẹ nhàng. Từ phía dưới, lúc này đã khuất tầm mắt, những tiếng rì rầm từ đám đông, không rõ ràng, đang xoa dịu tôi và khiến tôi chìm trong hơi ấm ban trưa. Một bóng đen hiện ra phía xa. Buồn ngủ, tôi lắc đầu và chớp mắt. Khi tôi mở mắt lần nữa, hình dáng vẫn ở đó, lúc này rõ ràng và đậm đặc sinh động hơn. Tóc gáy tôi đột nhiên dựng lên vì sợ hãi. “Người không phải là ma!” Tôi thốt lên. “Người là ai?” Hình dáng đó cười nhẹ, đáp: “Không, con trai của ta, ta không phải là ma. Ta cũng đã từng học ở đây tại Chakpori, và lười biếng như con đang nằm dài trên mái nhà này vậy. Sau đó, điều ta mong muốn hơn tất cả là sớm được giải phóng khỏi những ham muốn trần thế. Ta đã tự giam mình trong những bức tường của am thất đó,” ông ta ra hiệu lên phía trên, và tôi quay lại nhìn theo hướng cánh tay dang rộng của ông. “Bây giờ,” ông tiếp tục, bằng ngoại cảm, “Kể từ ngày đó, đây là lễ hội Logsar lần thứ mười một, ta đã đạt được điều mà mình đã tìm kiếm; tự do đi lang thang theo ý muốn, trong khi vẫn để thân thể an toàn trong am thất. Hành trình đầu tiên của ta là đến đây, để có thể một lần nữa nhìn vào đám đông, để một lần nữa có thể ghé thăm nơi được nhiều người nhớ đến này. Tự do, cậu bé ạ, ta đã đạt được tự do.” Trước cái nhìn của tôi, ông tan biến như một làn khói hương trong gió đêm.

Upon the roof, in my favourite spot, all was quiet. The sun provided a gentle warmth. From below me, now out of sight, there arose a confused murmur from the crowds, a murmur which in its indistinctness, soothed me and made me drowse in the noonday heat. A shadowy figure materialised almost at the extreme limit of my vision. Sleepily I shook my head and blinked my eyes. When I again opened them the figure was still there, clearer now and glowing more dense. The hairs at the back of my neck rose in sudden fright. “You are not a ghost!” I exclaimed. “Who are you?” The Figure smiled slightly and replied, “No, my son, I am not a ghost. Once I too studied here at the Chakpori, and lazed as you are lazing now upon this roof. Then I desired above all to speed my liberation from Earthly desires. I had myself immured within the walls of that hermitage,” he gestured upwards, and I turned to follow the direction of his outstretched arm. “Now,” he continued, telepathically, “on this the eleventh Logsar since that date I have attained that which I sought; freedom to roam at will, while leaving my body safe within the hermitage cell. My first journey is to here, that I may once again gaze upon the crowd, that I may once again visit this well-remembered spot. Freedom, boy, I have attained freedom.” Before my gaze he vanished like a cloud of incense dispersed by the night wind.

Những đạo viện ẩn dật! Những chú tiểu như chúng tôi đã nghe rất nhiều về chúng, bên trong chúng như thế nào? Chúng tôi thường tự hỏi. Tại sao người ta lại tự giam mình trong những am thất bằng đá, nằm chênh vênh trên sườn núi đó? Chúng tôi cũng tự hỏi về điều đó! Tôi quyết định sẽ hỏi người Thầy đáng kính của mình. Rồi tôi chợt nhớ tới một nhà sư già người Trung Quốc sống ngay gần phòng tôi. Cụ Wu Hsi đã có một cuộc sống thú vị; cụ đã từng là một nhà sư gắn bó với Cung điện Hoàng đế ở Bắc Kinh  trong một số năm. Quá mệt mỏi với cuộc sống nơi đó, cụ đã lang thang đến Tây Tạng để tìm kiếm sự giác ngộ. Cuối cùng thì sư cụ đã đến được Chakpori, và được nhận vào tu viện. Sau vài năm, sư cụ đã vào một am thất và sống cô độc trong bảy năm. Tuy nhiên, giờ đây, sư cụ đã trở lại Chakpori để chờ chết. Tôi quay lại và chạy nhanh đến hành lang bên dưới. Đi đến một căn phòng nhỏ, tôi gọi cụ.

The hermitages! We chelas had heard so much about them, what were they like inside? We often wondered. Why did men incarcerate themselves within those rock chambers, perched precariously upon the mountain’s edge? We wondered about that too! I determined that I would ask my beloved Guide. Then I remembered that an old Chinese monk lived a few yards from where I was. Old Wu Hsi had had an interesting life; for some years he had been a monk attached to the Palace of the Emperors in Peking. Tiring of such life, he had wandered into Tibet in search of enlightenment. Eventually he had reached the Chakpori, and had been accepted. Tiring of that after a few years, he had gone to a hermitage and for seven years had lived the solitary life. Now, though, he was back at Chakpori waiting to die. I turned and hastened to the corridor below. Making my way to a small cell, I called to the old man.

“Vào đi! Vào đi!” sư cụ gọi với một giọng cao, run rẩy. Tôi bước vào căn phòng, và lần đầu tiên tôi gặp nhà sư Trung Quốc Wu Hsi. Sư cụ đang ngồi xếp bằng và bất chấp tuổi tác, lưng cụ vẫn thẳng như một cây tre non. Sư cụ có gò má cao, và nước da rất rất vàng, giống như tờ giấy da. Đôi mắt ông đen huyền và xếch. Lưa thưa vài sợi râu và ria mép dài. Bàn tay của cụ có màu nâu vàng, lốm đốm do tuổi cao, trong khi các đường gân nổi rõ như những cành cây. Khi tôi bước về phía cụ, cụ nhìn chằm chằm vào tôi, cảm nhận chứ không phải nhìn, “Hmmn, hmmn,” cụ nói, “một cậu bé, con là một cậu bé theo cách con bước đi. Con cần gì, con trai?” “Thưa Cụ!” Tôi đáp, “Cụ đã sống trong am thất một thời gian dài. Thưa cụ đáng kính, Cụ có thể làm ơn kể cho con về thời gian đó không? ” Cụ lầm bầm và nhai đầu ria mép rồi nói: “Ngồi đi con trai, lâu lắm rồi ta mới nói về quá khứ, mặc dù bây giờ ta vẫn thường nghĩ về nó.”

”Come in! Come in!” he called in a high, quavering voice. I entered his cell, and for the first time met Wu Hsi the Chinese monk. He was sitting cross-legged and in spite of his age his back was as straight as a young bamboo. He had high cheekbones, and very very yellow, parchment-like skin. His eyes were jet black and slanted. A few straggly hairs grew from his chin, and from his upper lip depended a dozen or so hairs of his long moustache. His hands were yellow-brown, and mottled with great age, while his veins stood out like the twigs of a tree. As I walked toward him he peered blindly in my direction, sensing rather than seeing, “Hmmn, hmmn,” he said, “a boy, a young boy from the way you walk. What do you want, boy?” “Sir!” I replied, “you lived for long in a hermitage. Will you, Holy Sir, have the goodness to tell me of it?” He mumbled and chewed at the ends of his moustache and then said, “Sit boy, it is long since I talked of the past, although I think of it constantly now.”

“Khi còn trẻ,” cụ nói, “Ta đã đi xa và đến Ấn Độ. Ở đó, ta thấy các ẩn sĩ ẩn náu trong hang động của họ, và một vài trong số họ dường như đã đạt được giác ngộ.” Cụ lắc đầu; “Những người bình thường rất lười biếng, dành cả ngày bên dưới tán cây. Chà! Đó là một cảnh tượng đáng buồn!” “Thưa Cụ!” Tôi ngắt lời, “Con muốn nghe nói về các am thất của Tây Tạng ạ.” “Hở? Đó là cái gì vậy? ” ông cụ hỏi một cách yếu ớt. “Ồ phải, những ẩn thất của Tây Tạng. Từ Ấn Độ ta trở về Bắc Kinh quê hương của ta. Cuộc sống ở đó khiến ta chán ngán, vì ta không học được gì. Ta lại mang theo cây gậy và chiếc bát của mình, trong nhiều tháng, đến biên giới của Tây Tạng.” Tôi buồn bực thở dài. Cụ già tiếp tục, “Theo thời gian, sau khi ở hết tu viện này đến tu viện khác, luôn luôn tìm kiếm sự giác ngộ, ta đã đến được Chakpori. Vị Sư trưởng cho phép ta ở lại đây vì ta có đủ tiêu chuẩn làm thầy thuốc ở Trung Quốc. Chuyên môn của ta là châm cứu. Ta đã bằng lòng trong một vài năm, rồi sau đó trong ta hình thành ước muốn lớn lao là được vào một nơi ẩn cư”. Bây giờ tôi gần như nhấp nhổm vì sốt ruột. Nếu cụ già mất nhiều thời gian nữa, tôi sẽ bị quá muộn — tôi không thể bỏ lỡ buổi lễ tối! Ngay khi tôi nghĩ về nó, tôi đã có thể nghe thấy tiếng cồng chiêng đầu tiên. Tôi miễn cưỡng đứng dậy và nói, “Thưa Cụ, con phải đi ngay bây giờ.” Cụ già cười khúc khích. “Đừng, cậu bé,” cụ trả lời, “con có thể ở lại, không phải con ở đây để nhận được sự chỉ dẫn từ một người anh em nhiều trải nghiệm hơn hay sao? Hãy ở lại đây, con được miễn buổi lễ tối nay.” Tôi lại ngồi xuống, vì biết rằng cụ nói đúng; mặc dù cụ vẫn là một nhà sư, chứ không phải là một lạt ma, nhưng cụ vẫn được coi là một Trưởng lão vì tuổi tác, vì những chuyến đi và kinh nghiệm của mình. “Thằng nhỏ đâu, mang trà lên đây!” cụ kêu lên, “chúng ta sẽ uống trà, thân xác ta đã yếu lắm rồi, năm tháng đã đè nặng lên ta. Trà đâu, cho người trẻ và cho người già nhé.” Đáp lại lệnh của cụ, một nhà sư hầu cận cho Người cao tuổi đã mang cho chúng tôi trà và lúa mạch. Chúng tôi trộn cùng tsampa của mình, và an tọa, cụ nói và tôi lắng nghe.

“When I was a boy,” he said, “I traveled far and went to India. There I saw the hermits encloistered within their caves, and some of them appeared to have attained to enlightenment.” He shook his head; “The ordinary people were very lazy, spending their days beneath the trees. Ah! It was a sad sight!” “Holy Sir!” I interrupted, “I should much prefer to hear of the hermitages of Tibet.” “Eh? What’s that?” he asked feebly. “Oh yes, the hermitages of Tibet. I returned from India and went to my native Peking. Life there bored me, for I was not learning. I took again my staff and my bowl and made my way, over many months, to the borders of Tibet.” I sighed to myself in exasperation. The old man continued, “In course of time, after having stayed at lamasery after lamasery, always in search of enlightenment, I reached Chakpori. The Abbot permitted me to stay here as I was qualified as a physician in China. My specialty was acupuncture. For a few years I was content, then I conceived a great desire to enter a hermitage.” By now I was almost dancing with impatience. If the old man took much longer I should be too late—I could not miss evening service! Even as I thought of it, I could hear the first booming of the gongs. Reluctantly I rose to my feet and said, “Respected sir, I have to go now.” The old man chuckled. “No, boy,” he replied, “you may stay, for are you not here receiving instruction from an Elder Brother? Stay, you are excused from evening service.” I seated myself again, knowing that he was correct; although he was still a trappa, and not a lama, yet still he was considered as an Elder because of his age, his travels, and his experience. “Tea boy, tea!” he exclaimed, “we will have tea, for the flesh is frail and the weight of the years press heavily upon me. Tea, for the young and for the old.” In response to his summons, a Monk Attendant to the Aged brought us tea and barley. We mixed our tsampa, and settled down, he to talk and I to listen.

“Ngài Sư Trưởng đã cho phép ta rời khỏi Chakpori và vào một ẩn thất. Cùng với một nhà sư phục vụ, ta đã lên núi. Sau năm ngày trên đường, chúng ta đã đến một địa điểm có thể nhìn thấy từ trên mái nhà ở đây của chúng ta.” Tôi gật đầu, tôi biết nơi đó, một kiến trúc đơn độc nằm trên dãy Himalaya. Sư cụ nói tiếp, “Nơi này trống không, người đã ở đó trước đây đã qua đời. Người phục vụ và ta dọn dẹp nơi này, rồi ta nhìn ra Thung lũng Lhasa lần cuối. Ta nhìn xuống Potala và Chakpori, sau đó quay lại và đi vào buồng trong. Người phục vụ đã lấp kín cửa, trát xi măng chắc chắn, và ta ở lại đó một mình.” “Nhưng thưa Cụ! Bên trong nơi đó như thế nào ạ?” Tôi hỏi. Sư cụ xoa đầu mình. “Đó là một nơi ở được xây bằng đá,” sư cụ trả lời chậm rãi. “Một căn phòng với những bức tường rất dày. Không có cửa, một khi có người ở bên trong, vì cửa ra vào đã được xây tường bịt kín. Trên tường có một cái cửa sập ánh sáng hoàn toàn không thể lọt qua, qua đó các ẩn sĩ nhận thức ăn. Một đường hầm tối nối am thất với căn phòng nơi Người phục vụ sinh sống. Ta bị nhốt giữa những bức tường. Bóng tối dày đặc đến mức ta gần như có thể cảm nhận được. Không một tia sáng, cũng không một tiếng động. Ta ngồi xuống sàn và bắt đầu thiền. Đầu tiên, ta bị ảo giác, tưởng như ta nhìn thấy những vệt và dải ánh sáng. Sau đó, ta cảm thấy bóng tối bóp nghẹt ta như thể ta bị bao phủ bởi lớp bùn khô và mềm. Thời gian không còn tồn tại. Ngay trong trí tưởng tượng của ta, ta nghe thấy tiếng chuông, tiếng cồng và tiếng người đang tụng kinh. Sau đó, ta đập vào những bức tường, cố gắng tìm kiếm một lối thoát trong cơn điên cuồng. Ta không phân biệt được ngày và đêm, vì ở đây tất cả đều tối đen và lặng im như nấm mồ. Sau một thời gian ta bình tĩnh hơn, cơn hoảng loạn của ta đã lắng lại”.

“The Lord Abbot gave me permission to leave Chakpori and enter a hermitage. With a monk-attendant I journeyed from this place and ascended in to the mountains. After five days of travel we reached a spot which may be discerned from the roof above us.” I nodded, I knew the place, a solitary building set high in the Himalayas. The old man continued, “This place was empty, the former occupant had recently died. The Attendant and I cleaned out the place then I stood and looked out across the Valley of Lhasa for the last time. I looked down at the Potala and at Chakpori, then turned and went into the inner chamber. The Attendant walled up the door, cementing it firmly, and I was alone.” “But Sir! What is it like inside?” I asked. Old Wu Hsi rubbed his head. “It is a stone building,” he replied slowly. “A building with very thick walls. There is no door, once one is inside the inner chamber because the doorway is walled up. In the wall there is a trap entirely lightproof, through which the hermit received food. A dark tunnel connects the inner chamber with the room wherein lives the Attendant. I was walled in. The darkness was so thick that I could almost feel it. Not a glimmer of light entered, nor could any sound be heard. I sat upon the floor and began my meditation. First I suffered from hallucinations, imagining that I saw streaks and bands of light. Then I felt the darkness strangling me as if I were covered in soft, dry mud. Time ceased to exist. Soon I heard, in my imagination, bells, and gongs, and the sound of men chanting. Later I beat against the constraining walls of my cell, trying in my frenzy to force a way out. I knew not the difference between day or night, for here all was as black and as silent as the grave. After some time I grew calm, my panic subsided.”

Tôi ngồi nghe và hình dung ra khung cảnh, Sư cụ Wu Hsi – khi đó là Wu Hsi vẫn còn trẻ! – ở trong bóng tối, và sự im lặng bao trùm. “Hai ngày một lần,” sư cụ nói tiếp, “người phục vụ sẽ đến và đặt một ít tsampa bên ngoài cái cửa sập, đến lặng lẽ đến nỗi ta không bao giờ có thể nghe thấy tiếng động từ cậu ấy. Lần đầu tiên, mò mẫm thức ăn của mình trong bóng tối, ta đã đánh rơi nó và không thể nhặt lại được. Ta gọi và hét lên, nhưng không có âm thanh nào thoát ra khỏi căn phòng  của ta; Ta phải đợi thêm hai ngày nữa”. “Thưa Cụ!” Tôi hỏi, “điều gì sẽ xảy ra nếu một ẩn sĩ bị ốm hoặc chết?” “Con trai của ta,” sư cụ Wu Hsi nói, “nếu một ẩn sĩ bị ốm – anh ta sẽ chết. Người phục vụ đặt thức ăn hai ngày một lần trong mười bốn ngày. Sau mười bốn ngày, nếu thức ăn vẫn chưa được đụng đến, người ta sẽ đến phá tường và đưa xác của ẩn sĩ ra ngoài.”

I sat and visualised the scene, old Wu Hsi—young Wu Hsi then!—in the almost living darkness within the all-pervading silence. “Every two days,” said the old man, “the attendant would come and place a little tsampa outside the trap. Come so silently that I could never hear him. The first time, feeling blindly for my food in the darkness I knocked it of and could not reach it. I called and screamed, but no sound escaped from my cell; I just had to wait for another two days.” “Sir!” I asked, “what happens if a hermit is ill, or dies?” “My boy,” said old Wu Hsi, “if a hermit is ill—he dies. The attendant places food every two days for fourteen days. After fourteen days, if the food is still untouched, men come and break down the wall and take out the body of the hermit.”

Sư cụ Wu Hsi đã ở trong đó bảy năm. “Điều gì xảy ra trong trường hợp của cụ, khi Cụ đã ở đó trong khoảng thời gian đã định?” “Ta ở lại hai năm, rồi bảy năm. Khi gần đến lúc ta rời khỏi nơi đó, những lỗ nhỏ nhất trên trần nhà đã được tạo ra để một luồng ánh sáng rất nhỏ lọt vào. Cứ sau vài ngày, lỗ được mở rộng, cho phép nhiều ánh sáng hơn lọt vào. Cuối cùng thì ta có thể chịu được ánh sáng hoàn toàn. Nếu vị ẩn sĩ đột nhiên được đưa ra ngoài ánh sáng, ông ta lập tức bị mù vì mắt ông ta đã bị giãn ra trong bóng tối quá lâu đến mức không còn co giãn được nữa. Khi ta ra khỏi nơi đó, ta trắng bệch, xanh nhợt, và tóc trắng như tuyết trên núi. Ta đã được xoa bóp và tập vận động, vì các cơ của ta gần như vô dụng do lâu ngày không hoạt động. Ta phục hồi dần dần cho đến khi cuối cùng ta có thể cùng với người phục vụ của mình xuống núi để trở về Chakpori. ”

Old Wu Hsi had been a hermit for seven years. “What happens in a case like yours, when you have stayed for the time decided upon?” “I stayed for two years and then for seven. When it was almost time for me to come out the smallest of small holes was made in the ceiling so that a very minute shaft of light entered. Every few days the hole was enlarged, permitting more light to enter. At last I could withstand the full light of day. If the hermit is suddenly brought out into the light he is immediately struck blind as his eyes have been so long dilated in the darkness that they can no longer contract. When I came out I was white, bleached white, and my hair was as white as the mountain snows. I had massage and did exercise, for my muscles were almost useless with disuse. Gradually I recovered my strength until at last I was able with my attendant to descend the mountain to reside again at Chakpori.”

Tôi suy nghĩ về những lời nói của sư cụ, nghĩ về những năm tháng tăm tối vô tận, trong sự im lặng hoàn toàn mà Cụ đã trải qua, và tôi băn khoăn, “Cụ đã học được gì từ việc đó, thưa Cụ?” Cuối cùng tôi hỏi, “nó có đáng không?” “Đáng chứ, cậu bé, phải, nó rất đáng giá!” sư cụ nói. “Ta đã học được bản chất của cuộc sống, ta đã hiểu được mục đích tồn tại của bộ não. Ta đã thoát khỏi thể xác và có thể gửi linh hồn của ta bay xa giống như con đang làm bây giờ trong cõi trung giới.” “Nhưng làm thế nào để Cụ biết rằng đó không phải do Cụ tưởng tượng? Làm thế nào để Cụ biết rằng mình đã khỏe mạnh? Tại sao Cụ không thể du hành trong thể vía như con? ” Sư cụ Wu Hsi cười cho đến khi những giọt nước mắt lăn dài trên đôi má nhăn nhúm. “Câu hỏi – vô vàn những câu hỏi, cậu bé, giống như ta trước đây!” sư cụ trả lời.

I pondered his words, thinking of the endless years of darkness, of utter silence, thrown upon his own resources, and I wondered, “What did you learn from it, Sir?” I asked at last, “was it worth it?” “Yes, boy, yes, it was worth it!” said the old monk. “I learned the nature of life, I learned the purpose of the brain. I became free of the body and could send my spirit soaring afar just as you do now in the astral.” “But how do you know that you did not imagine it? How do you know you were sane? Why could you not travel in the astral as I do?” Wu Hsi laughed until the tears rolled down his furrowed cheeks. “Questions—questions—questions, boy, just as I used to ask them!” he replied.

“Đầu tiên ta đã vượt qua được sự hoảng sợ. Ta nguyền rủa ngày ta đi tu, nguyền rủa ngày ta bước chân vào nơi ẩn tu. Dần dần ta có thể biết cách thở và thiền định. Lúc đầu ta có ảo giác, tưởng tượng viển vông. Rồi một ngày ta thoát khỏi cơ thể và bóng tối không còn tồn tại với ta nữa. Ta thấy cơ thể mình đang ngồi trong trạng thái thiền định. Ta nhìn thấy đôi mắt vô hồn, nhìn chằm chằm, mở to của mình. Ta thấy da mình xanh xao và cơ thể gầy đi. Ta đứng dậy, đi xuyên qua nóc ẩn thất và nhìn thấy bên dưới mình là Thung lũng Lhasa. Ta đã nhìn thấy một số thay đổi nhất định, nhìn thấy những người mà ta quen biết và khi đi vào Đền thờ, ta có thể trò chuyện với một vị lạt ma bằng thần giao cách cảm, người đã xác nhận việc ta đã được giải thoát khỏi cơ thể. Ta đã lang thang khắp nơi và vượt ra ngoài biên giới của đất nước này. Cứ hai ngày một lần, ta trở lại và nhập vào cơ thể mình, làm cho nó hoạt động trở lại để ta có thể ăn và nuôi dưỡng nó” “Nhưng tại sao Cụ không thể đi du hành trên cõi trung giới mà không cần tất cả sự chuẩn bị đó?” Tôi hỏi lại.

“First I was overcome by panic. I cursed the day I became a monk, cursed the day I entered the cell. Gradually I was able to follow the breathing patterns and to meditate. At the start I had hallucinations, vain imaginings. Then one day I slipped free of my body and the darkness was dark no more to me. I saw my body sitting in the attitude of meditation. I saw my sightless, staring, wide-open eyes. I saw the pallor of my skin and the thinness of my body. Rising, I passed through the roof of the cell and saw below me the Valley of Lhasa. I saw certain alterations, saw people with whom I was acquainted and, passing into the Temple, I was able to converse with a telepathic lama who confirmed my release for me. I wandered far and wide and beyond the borders of this country. Every two days I returned and entered my body, re-animating it that I might eat and nourish it” “But why could you not do astral travelling without all that preparation?” I asked again.

“Một số người trong chúng ta là những người phàm rất bình thường. Rất ít người trong chúng ta được trao cho khả năng đặc biệt như con, để thực hiện nhiệm vụ mà con phải đảm nhận. Con cũng đã đi du hành những nơi xa xôi bằng thể vía. Những người khác, như ta chẳng hạn, phải chịu đựng sự cô độc và thử thách trước khi thể vía có thể thoát ra khỏi thân xác. Con là một trong những người may mắn, một trong những người rất may mắn!” sư cụ thở dài và nói: “Đi đi con! Ta cần được nghỉ ngơi, ta đã nói nhiều rồi. Hãy đến và gặp lại ta, con sẽ là một vị khách được chào đón dẫu cho con có nhiều thắc mắc đến đâu”. Ngài quay đi, tôi dứng dậy, nói nhỏ lời cảm ơn, cúi đầu và lặng lẽ đi ra khỏi phòng. Tôi mải mê suy nghĩ đến mức húc thẳng vào bức tường đối diện và suýt chút nữa thì hồn lìa khỏi xác. Xoa xoa cái đầu đau nhức của mình, tôi nhẹ nhàng đi bộ dọc theo hành lang cho đến khi về tới phòng của mình.

“Some of us are very ordinary mortals. Few of us have the special ability given to you by virtue of the task you have to undertake. You too have traveled far by the astral way. Others, such as I, have to endure solitude and hardship before one’s spirit can break free from the flesh. You, boy, are one of the fortunate ones, one of the very fortunate ones!” The old man sighed, and said, “Go! I must rest, I have talked long. Come and see me again, you will be a welcome visitor in spite of your questions.” He turned away, and with a muttered word of thanks I rose to my feet, bowed, and slipped quietly from the room. I was so busy thinking that I walked straight into the opposite wall and almost knocked my spirit out of my body. Rubbing my aching head, I walked sedately along the corridor until I reached my own cell.

Buổi lễ nửa đêm đã gần kết thúc. Các nhà sư bồn chồn, mong được đi ngủ thêm vài giờ trước khi quay lại buổi lễ. Vị sư già đứng trên bục cẩn thận đặt đánh dấu vào giữa các trang Sách và chuẩn bị bước xuống. Các giám thị có đôi mắt sắc bén, luôn cảnh giác khi có sự lộn xộn hoặc với những cậu bé vô ý, đã thư giãn đôi mắt của mình. Buổi lễ đã gần kết thúc. Các chú tiểu nhỏ xoay nhẹ các lư trầm hương lần cuối cùng, và tiếng rì rào nhỏ của đám đông đang chuẩn bị tản về các phòng. Đột nhiên có một tiếng rít đinh tai nhức óc, và một bóng dáng hoang dã nhảy nhót trên đầu các nhà sư đang ngồi và cố gắng bắt lấy một tu sĩ trẻ đang cầm hai que hương. Chúng tôi giật bắn người vì sốc. Trước mặt chúng tôi, bóng dáng hoang dã đang quay cuồng và xoay tròn, bọt bắn ra từ đôi môi méo mó, những tiếng la hét gớm ghiếc tuôn ra từ cổ họng bị thương. Trong một khoảnh khắc thế giới dường như đứng yên; Các nhà sư cảnh sát như bị đóng băng, bất động vì bất ngờ, các nhà sư đang hành lễ đứng giơ tay. Rồi ngay sau đó, các giám thị đã lao vào hành động. Họ quây lại kẻ điên loạn, nhanh chóng khống chế ông ta, và dùng áo choàng quấn đầu ông ta lại để bịt miệng, ngăn chặn những lời thề độc địa tuôn ra như nước từ miệng ông ta. Nhanh chóng và hiệu quả, ông ta được nhấc lên và đưa ra khỏi Đền thờ. Buổi lễ đã kết thúc. Chúng tôi đứng dậy và chạy nhanh ra ngoài, nóng lòng muốn chạy ra khỏi Đền thờ để có thể bàn luận về sự việc chúng tôi vừa chứng kiến.

The midnight service was almost over. Monks were fidgeting slightly, ready to hurry off for a few more hours of sleep before returning. The old Reader up on the podium carefully inserted a marker between the pages of the Book and turned in readiness to step down. Sharp eyed proctors, ever alert for disturbances, or for inattentive small boys, relaxed their gaze. The service was almost over. Small chelas swung the censers for the last pass, and there was the barely suppressed hum of a large gathering preparing to move. Suddenly there was an ear-splitting screech, and a wild figure bounded over the heads of the sitting monks and tried to seize a young trappa, holding two sticks of incense. We jerked upright with shock. Before us the wild figure whirled and spun, foam flying from writhing lips, hideous screams pouring from tortured throat. For a moment of time the world seemed to stand still; police-monks frozen into immobility with surprise, officiating priests standing with arms upraised. Then violently, the proctors swung into action. Converging on the mad figure, they quickly subdued him, winding his robe about his head to silence the evil oaths which streamed in a torrent from his mouth. Efficiently, speedily, he was lifted and removed from the Temple. The service ended. We rose to our feet and hastened out, anxious to get beyond the Temple bounds so that we could discuss that which we had just seen.

“Đó là Kenji Tekeuchi,” một tu sĩ trẻ đứng gần tôi nói. “Ông ấy là một nhà sư Nhật Bản đã từng đi khắp nơi.” “Đã đi khắp nơi trên thế giới, người ta nói vậy,” một người khác nói thêm. “Ông ấy đi tìm kiếm Chân lý, và hy vọng người ta sẽ mang đến cho ông ta thay vì phải làm việc để tìm ra nó,” người thứ ba nhận xét. Tôi bước đi, suy nghĩ miên man, tâm trí rối bời. Tại sao ‘Tìm kiếm chân lý’ lại khiến một người phát điên? Căn phòng lạnh lẽo, tôi khẽ rùng mình khi quấn áo choàng quanh người và nằm xuống ngủ. Có vẻ như chỉ trong chớp mắt, tiếng cồng chiêng lại vang lên báo hiệu buổi lễ tiếp theo. Khi nhìn qua cửa sổ, tôi thấy những tia nắng đầu tiên chiếu qua dãy núi, những tia sáng như những ngón tay khổng lồ đang thám hiểm bầu trời, chạm tới những vì sao. Tôi thở dài, và nhanh chóng đi xuống hành lang, lo lắng sẽ là người cuối cùng vào buổi lễ và như vậy xứng đáng được nhận cơn thịnh nộ của các giám thị.

“That’s Kenji Tekeuchi,” said a young trappa near me. “He is a Japanese monk who has been visiting everywhere.” “Been around the world, so they say,” added another. “Searching for Truth, and hoping to get it handed to him instead of working for it,” remarked a third. I wandered off, somewhat troubled in mind. Why should ‘Searching for Truth’ make a man mad? The room was cold, and I shivered slightly as I wrapped my robe around me and lay down to sleep. It seemed that no time at all had elapsed before the gongs were booming again for the next service. As I looked through the window I saw the first rays of the sun come over the mountains, rays of light like giant fingers probing the sky, reaching for the stars. I sighed, and hurried down the corridor, anxious not to be the last one to enter the Temple and thus merit the wrath of the proctors.

“Lobsang, trông con có vẻ nghĩ ngợi,” Thầy tôi, Đại Đức Minh Gia nói khi tôi gặp Người vào cuối ngày, sau lễ cầu nguyện buổi trưa. Người ra hiệu cho tôi ngồi. “Con đã nhìn thấy nhà sư Nhật Bản, Kenji Tekeuchi, khi ông ấy vào Đền thờ. Ta muốn cho con biết về ông ấy, để sau này con sẽ gặp ông ta”. Tôi đã ổn định chỗ ngồi thoải mái, vì biết đây sẽ không phải là một cuộc nói chuyện ngắn, tôi đã bị ‘tóm’đến  đây cho đến hết ngày! Vị Lạt ma mỉm cười nhìn tôi. “Có lẽ chúng ta nên uống trà Ấn Độ … và bánh ngọt Ấn Độ … Lobsang, con thấy sao?” Tôi tươi tỉnh lên một chút, Người cười và nói, “Người phục vụ đang mang đến bây giờ, ta đang đợi con!” Đúng vậy, tôi đã nghĩ, khi nhà sư hầu cận bước vào, “Đâu thể tìm ra một người Thầy như vậy ở nơi nào khác cơ chứ?” Những chiếc bánh đến từ Ấn Độ là món ăn yêu thích đặc biệt của tôi.

“You are looking thoughtful, Lobsang,” said my Guide the Lama Mingyar Dondup when I saw him later in the day, after the noon service. He motioned for me to sit. “You saw the Japanese monk, Kenji Tekeuchi, when he entered the Temple. I want to tell you about him, for later you will meet him.” I settled myself more comfortably, this was not going to be a quick session—I was ‘caught’ for the rest of the day! The Lama smiled as he saw my expression. “Perhaps we should have Indian tea . . . and Indian sweetcakes . . . to sugar the pill, Lobsang, eh?” I brightened up a bit, and he chuckled and said, “The attendant is bringing it now, I expected you!” Yes I thought, as the monk-servant entered, “where else would I have such a Teacher?” The cakes from India were my special favourites, and even the Lama’s eyes sometimes widened with astonishment at the number I could ‘put away’!

“Kenji Tekeuchi,” vị Lạt ma nói, “là một người hay thay đổi. Một người đi nhiều nơi. Trong suốt cuộc đời của mình (hiện ông đã hơn bảy mươi), ông đã lang thang khắp thế giới để tìm kiếm cái mà ông gọi là ‘Chân lý’. Chân lý ở trong ông ta nhưng ông ta không hề hay biết. Thay vào đó ông ta đã đi lang thang, và mải miết đi tìm. Ông ta luôn nghiên cứu về tín ngưỡng tôn giáo, luôn đọc sách của nhiều vùng đất để theo đuổi cuộc tìm kiếm này, nỗi ám ảnh này. Bây giờ, cuối cùng, ông ấy đã được gửi đến chúng ta. Ông ta đã đọc quá nhiều điều mâu thuẫn đến nỗi ánh hào quang của ông ta bị ô nhiễm. Ông ta đã đọc quá nhiều và hiểu quá ít nên hầu hết thời gian ông ta đều bị mất trí. Ông ấy giống như một miếng bọt biển, hút sạch mọi kiến ​​thức nhưng tiêu hóa rất ít”. “Vậy thì, thưa Thầy!” Tôi thốt lên “Thầy phản đối việc học qua sách à?” “Không hề, Lobsang,” Vị Lạt ma trả lời, “Ta cũng như tất cả những người có tư duy, phản đối những người chỉ biết có sách vở, những cuốn sách viết về các tôn giáo kỳ lạ, về cái gọi là thuyết huyền bí. Những người này đầu độc tâm hồn họ, họ không thể tiến bộ hơn nữa cho đến khi họ trút bỏ hết những kiến ​​thức sai lầm và trở thành như một đứa trẻ.”

“Kenji Tekeuchi,” said my Guide, “is—was—a very versatile man. A well traveled one. Throughout his life (he is now over seventy) he has wandered the world in search of what he calls ‘Truth’. Truth is within him yet he knows it not. Instead he has wandered, and wandered again. Always he has been studying religious beliefs, always he has been reading the books of many lands in pursuit of this search, this obsession. Now, at long last, he has been sent to us. He has read so much of a conflicting nature that his aura is contaminated. He has read so much and understood so little that most of the time he is insane. He is a human sponge, mopping up all knowledge and digesting very little.” “Then, Sir!” I exclaimed “you are opposed to book-study?” “Not at all, Lobsang,” replied the Lama, “I am opposed, as are all thinking men, to those who obtain the brochures, the pamphlets, and the books written about strange cults, about so-called occultism. These people poison their soul, they make further progress impossible for them until they have shed all the false knowledge and become as a little child.”

“Thưa Thầy,” tôi hỏi, “tại sao người ta lại bị mất trí? Tại sao  đọc những điều sai lầm lại dẫn đến chứng rối loạn tâm thần?” “Đó là một câu chuyện rất dài”, Lạt ma Minh Gia Đại Đức trả lời. “Đầu tiên chúng ta phải nói đến một số nguyên tắc cơ bản. Con hãy kiên nhẫn và lắng nghe! Khi đến Trái đất, chúng ta giống như những con rối, những con rối làm từ các phân tử rung động được bao bọc bởi các điện tích. Chân ngã của chúng ta rung động với tốc độ cao hơn rất nhiều và có điện tích cao hơn rất nhiều. Có một mối quan hệ xác định giữa tốc độ rung động của chúng ta và của Chân ngã. Người ta có thể ví quá trình giao tiếp giữa một người trên Trái đất này với Chân ngã của chính mình ở nơi khác theo một qui trình mới trên thế giới này, qui trình mà sóng vô tuyến được phát qua các lục địa và đại dương, do đó cho phép một người ở quốc gia này có thể  giao tiếp được với người khác ở những vùng đất xa xôi. Bộ não của chúng ta tương tự máy thu thanh ở chỗ chúng nhận các thông điệp, mệnh lệnh và hướng dẫn ‘tần số cao’ từ Chân ngã và biến chúng thành các xung động tần số thấp điều khiển hành vi của chúng ta. Bộ não là thiết bị điện-cơ-hóa học giúp chúng ta trở nên có ích trên Trái đất. Các phản ứng hóa học khiến não bộ của chúng ta hoạt động sai lệch có thể do một phần của thông điệp bị chặn, trên Trái đất hiếm khi chúng ta nhận được chính xác thông điệp được ‘phát đi’ bởi Chân ngã. Khả năng hành động của Tâm trí bị giới hạn nếu không có kết nối đến Chân ngã. Trí óc có thể chấp nhận những trách nhiệm nhất định, hình thành những quan điểm nhất định và cố gắng lấp đầy khoảng cách giữa những điều kiện ‘lý tưởng’ của Chân ngã và những điều kiện khó khăn của Trái đất.”

“Honourable Lama,” I asked, “how does one become Insane? how does wrong reading sometimes lead to confusion?” “That is quite a long story”, replied the Lama Mingyar Dondup. “First we have to deal with some fundamentals. Possess yourself in patience and listen! Upon Earth we are as puppets, puppets made of vibrating molecules surrounded by an electric charge. Our Overself vibrates at a very much higher rate, and has a very much higher electric charge. There is a definite relationship between our rate of vibration and that of our Overself. One can liken the process of communication between each one of us on this Earth and our Overself elsewhere to a new process on this world, the process whereby radio waves are sent across continents and seas, thus enabling a person in one country to communicate with a person in a far distant land. Our brains are similar to radio receivers in that they receive the ‘high frequency’ messages, orders and instructions, from the Overself and turn them into low frequency impulses which control our actions. The brain is the electro-mechanical-chemical device which makes us useful on Earth. Chemical reactions cause our brain to function in a faulty manner by perhaps blocking part of a message, for rarely, on Earth, do we receive the exact message ‘broadcast’ by the Overself. The Mind is capable of limited action without reference to the Overself. The Mind is able to accept certain responsibilities, form certain opinions, and attempts to bridge the gap between the ‘ideal’ conditions of the Overself and the difficult ones of Earth.”

“Nhưng liệu người phương Tây có chấp nhận lý thuyết về điện não không?” Tôi hỏi. “Có”, Thầy tôi trả lời, “trong một số bệnh viện, sóng não của bệnh nhân được lập biểu đồ, và người ta đã phát hiện ra rằng một số rối loạn tâm thần nhất định có kiểu sóng não đặc trưng. Do đó, từ sóng não có thể nói rằng một người có hoặc không mắc một số bệnh hoặc bệnh tâm thần. Thông thường, một căn bệnh của cơ thể sẽ gửi một số hóa chất nhất định đến não, làm ô nhiễm dạng sóng của nó, và do đó gây ra các triệu chứng mất trí”. “Có phải tu sĩ người Nhật bị loạn trí không ạ?” Tôi hỏi. “Đi nào! Chúng ta sẽ gặp ông ấy ngay bây giờ, trong lúc ông ấy đang tỉnh táo.” Lạt ma Minh Gia Đại Đức đứng dậy và đi nhanh ra khỏi phòng. Tôi bật dậy và chạy theo Người. Thầy tôi dẫn tôi đi dọc hành lang, xuống một tầng khác, và đến một khu vực cách xa, là nơi ở của những người đang được điều trị y tế. Trong một hốc tường nhỏ nhìn ra Khati Linga, nhà sư Nhật Bản đang ngồi ủ rũ nhìn ra bên ngoài. Nhận ra Lạt ma Minh Gia Đại Đức, ông ta đứng dậy, chắp tay và kính cẩn cúi chào. “Hãy ngồi xuống đi.” Thầy tôi nói, “ Tôi đưa một tu sĩ trẻ tới đây để cậu ấy có thể học hỏi từ ông. Cậu ấy đang được đào tạo đặc biệt theo lệnh của Đức Thái Tuế.” Vị Lạt Ma cúi chào, quay người và rời khỏi phòng. Trong một lúc, tu sĩ người Nhật nhìn chằm chằm vào tôi, rồi ra hiệu cho tôi ngồi. Tôi ngồi xuống và thận trọng giữ khoảng cách vì tôi không biết khi nào ông ta lại trở nên điên loạn!

“But do Western people accept the theory of electricity in the brain?” I asked. “Yes,” replied my Guide, “in certain hospitals the brain waves of patients are charted, and it has been found that certain mental disorders have a characteristic brain-wave pattern. Thus, from the brain waves it can be stated that a person does or does not suffer from some mental disease or illness. Often an illness of the body will send certain chemicals to the brain, contaminate its wave-form, and thus give symptoms of insanity.” “Is the Japanese very mad?” I asked. “Come! We will see him now, he has one of his lucid spells.” The Lama Mingyar Dondup rose to his feet and hurried from the room. I jumped to my feet and sped after him. He led the way on down the corridor, down to another level, and to a distant wing where lodged those undergoing medical treatment. In a little alcove, overlooking the Khati Linga, the Japanese monk sat looking moodily outwards. At the approach of the Lama Mingyar Dondup he rose to his feet, clasped his hands and bowed low. “Be seated,” said my Guide. “I have brought a young man to you that he may listen to your words. He is under special instruction by order of the Inmost One.” The Lama bowed, turned and left the alcove. For some moments the Japanese stared at me, then motioned for me to sit. I sat—at a discreet distance as I did not know when he would become violent!

“Đừng nhồi nhét vào đầu mình tất cả những thứ huyền bí mà con có thể đọc được, cậu bé ạ!” nhà sư Nhật Bản nói. “Đó là thứ vật chất khó tiêu sẽ cản trở sự tiến bộ tâm linh của con. Ta đã nghiên cứu tất cả các Tôn giáo. Ta đã nghiên cứu tất cả các tôn giáo siêu hình mà ta có thể tìm thấy. Nó đầu độc ta, làm mờ đi cái nhìn của ta, khiến ta tin rằng ta là Người Đặc biệt được lựa chọn. Bây giờ não của ta bị suy yếu và đôi khi ta mất kiểm soát bản thân – mất đi sự kết nối với Chân ngã.” “Nhưng thưa ngài!” Tôi thốt lên, “làm sao người ta có thể học được nếu người ta không đọc? Sách vở sao có thể gây hại?” “Này con!” nhà sư người Nhật nói: “Chắc chắn ai cũng có thể đọc, nhưng hãy cẩn thận lựa chọn và đảm bảo rằng con hiểu rõ về những gì con đang đọc. Sách vở không nguy hiểm, nhưng nguy hiểm trong suy nghĩ mà nội dung trong đó có thể gây ra. Không phải cái gì cũng ăn, trộn lẫn cái tương thích với cái không tương thích; người ta cũng không nên đọc những thứ mâu thuẫn hoặc chống đối người khác, cũng như không nên đọc những thứ hứa hẹn sức mạnh huyền bí. Có thể dễ dàng tạo ra một Hình Tư tưởng mà người ta không thể kiểm soát được, giống như ta đã làm, và sau đó Hình tư tưởng đó gây tổn thương cho người ta.” “Ngài đã đến tất cả các quốc gia trên thế giới chưa?” Tôi hỏi. Nhà sư người Nhật nhìn tôi, và một tia sáng lấp lánh hiện lên trong mắt ông ta.

“Do not cram your head with all the occult stuff you can read, boy!” said the Japanese monk. “It is indigestible matter which will impede your spiritual progress. I studied all the Religions. I studied all the metaphysical cults which I could find. It poisoned me, clouded my outlook, led me to believe that I was a Specially Chosen One. Now my brain is impaired and at times I lose control of myself—escape from the direction of my Overself.” “But Sir!” I exclaimed, “how may one learn if one may not read? What possible harm can come of the printed word?” “Boy!” said the Japanese monk, “certainly one may read, but choose with care what you read and make sure that you quite understand that which you are reading. There is no danger in the printed word, but there is danger in the thoughts which those words may cause. One should not eat everything, mixing the compatible with the incompatible; nor should one read things which contradict or oppose others, nor should one read things which promise occult powers. It is easily possible to make a Thought-form which one cannot control, as I did, and then the Form injures one.” “Have you been to all the countries of the world?” I asked. The Japanese looked at me, and a slight twinkle appeared in his eyes.

“Ta được sinh ra trong một ngôi làng nhỏ ở Nhật Bản,” ông ấy nói, “và khi lớn lên, ta đã xuất gia đi tu. Trong nhiều năm, ta đã nghiên cứu các tôn giáo và thực hành các phương pháp huyền bí. Sau đó, Bề trên bảo ta phải rời đi và đến những nước ở bên kia đại dương. Trong năm mươi năm ta đã đi hết nước này sang nước khác, từ lục địa này sang lục địa khác, luôn luôn học hỏi. Bằng tư tưởng của mình, ta đã tạo ra những quyền năng mà ta không thể kiểm soát. Những quyền năng hoạt động trong cõi trung giới và đôi khi ảnh hưởng đến sợi chỉ bạc của ta. Sau này có lẽ ta sẽ được phép nói với con nhiều hơn. Hiện tại, ta vẫn còn yếu từ lần bị bệnh vừa rồi và do đó ta phải nghỉ ngơi. Nếu được Thầy của con cho phép, con có thể đến với ta vào một ngày khác.” Tôi cúi chào và rời đi. Khi thấy tôi đi ra, một nhà sư y tế vội vàng đến với ông ta. Tôi tò mò nhìn quanh, kín đáo nhìn những vị sư già đang nằm đó trong khu vực này của Chakpori. Sau đó, nghe thấy lời gọi khẩn cấp bằng thần giao cách cảm, tôi chạy nhanh đến chỗ Thầy tôi, Lạt ma Minh Gia Đại Đức.

“I was born in a small Japanese village,” he said, “and when I was old enough I entered Holy Service. For years I studied religions and occult practices. Then my Superior told me to leave and to travel in countries far beyond the oceans. For fifty years I have traveled from country to country, from continent to continent, always studying. By my thoughts I have created Powers which I could not control. Powers that live in the astral plane and which at times affect my Silver Cord. Later maybe I shall be permitted to tell you more. For the present, I am still weak from the last attack and thus must rest. With the permission of your Guide you may visit me at a later date.” I made my bows and left him alone in the alcove. A medical monk, seeing me leave, hastened in to him. Curiously I peeped about me, peeped at the old monks lying there in this part of the Chakpori. Then, in response to an urgent telepathic call, I hastened away to my Guide, the Lama Mingyar Dondup.

 

[1] [VMC] Thiên Thần của Mons là một câu chuyện về sự xuất hiện nổi tiếng của một thực thể siêu nhiên đã bảo vệ Quân đội Anh khỏi bị đánh bại bởi các lực lượng xâm lược của Đế quốc Đức vào đầu Thế chiến thứ nhất trong Trận chiến Mons ở Bỉ vào ngày 23 tháng 8 năm 1914.

Comments

comments